25/09/2025
[Bài 8] THỰC CHIẾN 😎
CÁCH TÍNH THỜI GIAN RÓT – 3 PHƯƠNG PHÁP THỰC TẾ
Thời gian rót được phải được thay đổi một cách hợp lý dựa trên hình dạng của vật đúc, độ dày, thành phần hoá học, và nhiệt độ rót. Dựa trên nghiên cứu khoa học cũng như kinh nghiệm thì có nhiều phương pháp quyết định thời gian, và việc lựa chọn phương pháp nào cũng là một vấn đề cần đem ra thảo luận.
8.1 Phương pháp đơn giản nhất
Phương trình tính đơn giản nhất, là phương trình của H.W.Dietert được áp dụng với vật đúc có khối lượng dưới 450kg như sau:
T = s√W (1)
T: thời gian rót (s)
W: khối lượng đúc (kg)
s: hằng số quyết định bởi độ dày vật đúc
Độ dày 2.8~3.6mm s= 1.64
4.0~8.0mm s= 1.84
8.2~15.6mm s= 2.24
Tuy nhiên hằng số s thay đổi dựa theo tình hình thực tế của mỗi công trường, hình dạng sản phẩm, độ phức tạp của đường dẫn cũng như thành phần cấu tạo hoá học của gang. Do vậy, tốt nhất nên dựa trên kết quả thực tế để xác định hệ số riêng cho công trường của mình.
8.2 Phương pháp hơi phức tạp
Phức tạp hơn phương trình (1) một chút là phương trình của Wallce & Evance. Ở đây thời gian đúc được tính toán dựa trên thành phần đương lượng Cacbon (số CE = C+1/3 Si), nhiệt độ rót, độ dày trung bình của sản phẩm cũng như khối lượng đúc.
T = k(1.41+d/14.6)√W (2)
T: thời gian đúc (s)
k: hằng số lưu động của gang nóng chảy
k = (378.5×CE%+2.92×t^℃-3900)/(40×25.4)
d: độ dày trung bình của sản phẩm (mm)
t: nhiệt độ rót (℃)
W: khối lượng vật đúc (kg) (sản phẩm + đậu ngót)
Phạm vi áp dụng của phương trình (2) là dành cho những vật đúc có khối lượng dưới 450kg. Tuy nhiên với những vật đúc có khối lượng đến 4500kg thì thay W thành W^(1/3), đến 11000kg là W^(2/7) và lớn hơn 11000kg là W^(2/4) vào phương trình này.
Ngoài 2 phương pháp trên cũng có một số phương pháp tính thời gian rót được đề xuất. Ví dụ như Trung tâm nghiên cứu đúc của hiệp hội đúc nhật bản có đưa ra báo cáo GIRI No.231. Theo đó thời gian được tính như bảng tính 2.9 phía dưới. Hình 2.10 là biểu đồ tính toán dựa trên dữ liệu trong bảng tính 2.9.
Với sản phẩm dưới 100kg thì cần theo phương trình 2, chú ý đến những thay đổi nhỏ của thành phần cấu tạo cũng như nhiệt độ rót. Tuy nhiên với những vật lớn thì cần quan tâm đến mức đó. Hình 2.10 lấy tiêu chuẩn của vật đúc có độ dày trung bình là 30mm. Trong trường hợp độ dày trung bình của vật đúc thay đổi thì sẽ cần tìm theo kinh nghiệm của mỗi công trường.
Theo bảng tính 2.9 thì giá trị thời gian thu được từ là “một điểm”. Nhưng cũng có trường hợp phải rót nhanh và rót chậm so với thời gian đúc tiêu chuẩn. Đây là lý do vì sao có một khoảng chiều rộng trong hình 2.10. Hầu hết các giá trị thu được từ các không thức tính thời gian, hay những con số báo cáo trước đó đều nằm trong dải này. Trong trường hợp sản phẩm có độ dày tương đối nhỏ thì sẽ sử dụng đường cong dưới, và trong trường hợp độ dày lớn sẽ sử dụng đường cong trên. Tuy nhiên thời gian đúc tính theo hình 2.10 cũng chỉ mang tính tham khảo, để có 1 con số thích hợp cần dựa trên kinh nghiệm thực tế của từng công trường. Lại nữa, trong trường hợp của gang cầu thì sử dụng những giá trị gần đường cong trên.
8.3 Phương pháp tính dựa vào tốc độ dòng chảy trong khuôn
Thông thường tốc độ của gang được khuyến cáo là từ 0.6 đến 0.9 m/s, trong trường hợp sản phẩm lớn hơn như với khuôn cát tự cứng (ví dụ như Furan) thì chọn tốc độ 0.9m/s. Từ đây ta có thể tính được lưu lượng khi đúc sản phẩm tầm trung là 1.4~2.4kg/s/〖cm〗^2 và sản phẩm lớn sẽ nằm trong khoảng2 .4~7.2kg/s/〖cm〗^2
Như trên,dù có nhiều cách để tính toán thời gian đúc, nhưng những giá trị thu được chỉ mang tính chất tham khảo, cần có sự tính toán hợp lý thời gian đúc phù hợp với từng công trường.