Siêu thị thuốc thú y - Thủy sản - Chế phẩm nông nghiệp

  • Home
  • Vietnam
  • Gia Lâm
  • Siêu thị thuốc thú y - Thủy sản - Chế phẩm nông nghiệp

Siêu thị thuốc thú y - Thủy sản - Chế phẩm nông nghiệp 🍀🍀Chuyên thuốc thú y - Thủy sản - Chế phẩm nông nghiệp

Kỹ thuật làm đệm lót sinh học trong nuôi gàĐệm lót sinh họcĐệm lót sinh học là hỗn hợp giữa chất trộn có thể là trấu, mù...
06/08/2022

Kỹ thuật làm đệm lót sinh học trong nuôi gà
Đệm lót sinh học

Đệm lót sinh học là hỗn hợp giữa chất trộn có thể là trấu, mùn cưa, lõi bắp, vỏ bào… kết hợp men vi sinh vật có lợi dùng để lót nền chuồng trong chăn nuôi. Hệ men vi sinh vật có lợi giúp phân giải nước tiểu, phân thải, hạn chế khí hôi, thối; ức chế và tiêu diệt sự phát triển của các vi sinh vật có hại. Riêng phân của gà sau khi thu dọn đệm lót có thể dùng bón cây rất tốt.

Đệm lót nền chuồng được xử lý và bảo dưỡng tốt có thời gian sử dụng 6 - 12 tháng, thời gian sử dụng phụ thuộc vào các yếu tố: Nguyên liệu dùng làm đệm lót; độ dày đệm lót (nếu đệm lót quá mỏng thì thời gian sử dụng ngắn hơn so với chất độn dày); chế độ xử lý, bảo dưỡng...

Kỹ thuật làm đệm lót sinh học trong nuôi gà
Nuôi gà trên nền đẹm lót sinh học giảm chi phí chăn nuôi.
- Chuẩn bị chuồng trại

Tùy điều kiện chăn nuôi, quy mô và hình thức nuôi để người nuôi có thể xây dựng chuồng trại phù hợp. Nếu chuồng trại đang trong quá trình xây có thể để nền chuồng bằng đất nện chặt để giảm chi phí xây dựng mà vẫn có thể sử dụng được đệm lót. Đối với chuồng trại đang chăn nuôi bằng nền gạch, xi măng cũng không cần cải tạo lại chuồng mà vẫn có thể sử dụng luôn đệm lót.

Chuẩn bị vật liệu: Vật liệu để làm đệm lót chuồng gồm trấu, mùn cưa, lõi ngô… và men vi sinh (thường dùng men DRYFARM của cty Tâm vet - chủng men gốc với công nghệ mới nhất hiện nay).
C1: Rắc trực tiếp men vi sinh lên nền đệm lót
C2: Ủ men vs cám ngô, gạo
Thường nguyên liệu bằng trấu được nhiều người nuôi sử dụng cho chuồng nuôi gà úm hay gà thịt. Tùy vào diện tích của chuồng nuôi và loại chế phẩm sử dụng mà người nuôi tính toán và chuẩn bị các vật liệu thích hợp. Thông thường 1 kg chế phẩm DRYFARM sử dụng được cho 70 - 85 m2 nền chuồng.

Cách trộn chế phẩm: Thông thường 1 kg chế phẩm có thể trộn 5 kg cám ngô, hoặc cám gạo, hoặc có thể trộn lẫn cám ngô và cám gạo tùy từng hộ nuôi. Sau đó cho thêm 2,5 - 3 lít nước sạch vào đảo đều đến khi đạt độ ấm thích hợp (bóp thử một nắm bột thấy không quá khô có bụi hoặc không bị vón cục là đạt), trong điều kiện nhiệt độ cao vào mùa hè, để tiết kiệm thời gian đối với gà thịt có thể trộn xong và rắc trực tiếp lên mặt chuồng đã chuẩn bị đệm lót. Tuy nhiên, để đạt hiệu quả tốt nhất, người nuôi nên để chế phẩm đã chuẩn bị vào túi, thùng… rồi để vào nơi râm mát (mùa hè) khoảng 1 ngày hoặc mùa đông để vào chỗ ấm ủ trong 2 - 3 ngày đến khi men có mùi thơm nhẹ hoặc chua.

Làm đệm lót sinh học từ trấu

Bước 1: Rải trấu lên toàn bộ nền chuồng dày 10 - 15 cm (lớp trấu dày sẽ đạt hiệu quả cao hơn) sau đó thả gà.

Bước 2: Sau 5 - 7 ngày với gà nuôi úm, 1 - 2 ngày với gà nuôi thịt hoặc có thể rắc trực tiếp trong chuồng đang nuôi, quan sát trên bề mặt chuồng khi nào thấy phân rải kín, tiến hành cào đảo nhẹ lớp mặt đệm lót sâu 1 - 3 cm. Nên quây gọn gà về 1 góc hoặc thả gà để tránh gây xáo trộn làm gà bị stress.

Bước 3: Sau khi đảo lớp mặt xong thì rắc đều chế phẩm đã được ủ lên toàn bộ bề mặt chất đệm ở chuồng nuôi. Dùng tay hoặc cào xoa nhẹ đều trên bề mặt đệm lót để men được phân tán đều khắp trên bề mặt của toàn bộ chuồng.

Lưu ý: Nhiệt độ ở đệm lót luôn nóng ẩm nên khi úm gà chỉ cần quây kín phía dưới

Giá heo hơi hôm nay 20/7: Ba miền tiếp tục tăng mạnh tại nhiều nơiGiá heo hơi hôm nay tại miền Bắc thấp nhất là 71.000 đ...
20/07/2022

Giá heo hơi hôm nay 20/7: Ba miền tiếp tục tăng mạnh tại nhiều nơi
Giá heo hơi hôm nay tại miền Bắc thấp nhất là 71.000 đồng/kg
Tại miền Bắc, giá heo hơi tiếp tục điều chỉnh 1.000 - 3.000 đồng/kg tại một vài nơi.

Trong đó, Ninh Bình điều chỉnh tăng 3.000 đồng/kg lên mốc 74.000 đồng/kg.

Trái lại, sau khi giảm 1.000 đồng/kg, TP Hà Nội hiện thu mua heo hơi tại mức 72.000 đồng/kg.

Các tỉnh thành còn lại trong khu vực không ghi nhận sự thay đổi mới về giá so với hôm qua.

Giá heo hơi hôm nay tại miền Bắc dao động trong khoảng 71.000 - 74.000 đồng/kg.
Giá heo hơi hôm nay tại miền Trung, Tây Nguyên tăng 1.000 - 2.000 đồng/kg
Giá heo hơi khu vực miền Trung, Tây Nguyên tăng 1.000 - 2.000 đồng/kg trong hôm nay.

Cụ thể, Quảng Nam, Bình Định và Khánh Hòa tăng 1.000 đồng/kg, hiện thu mua chung mốc 64.000 đồng/kg.

Sau khi tăng 2.000 đồng/kg, Thừa Thiên Huế đang giao dịch tại mức 65.000 đồng/kg, cùng với Quảng Ngãi.

Thương lái 4 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Lâm Đồng và Bình Thuận đang thu mua heo hơi tại ngưỡng 70.000 đồng/kg, không đổi so với trước.

Giá heo hơi hôm nay tại miền Trung, Tây Nguyên dao động trong khoảng 64.000 - 70.000 đồng/kg.
Khoảng 10 ngày nay, giá heo hơi trong cả nước đã bật tăng trở lại. Đặc biệt, có thời điểm giá heo hơi tăng từ 8.000 - 10.000 đồng/kg trong ngày. Hiện tại, giá heo hơi ở Nghệ An dao động từ 66.000 - 70.000 đồng/kg (tuỳ vùng và tuỳ loại heo). Theo đó, mỗi kg heo hơi đã điều chỉnh tăng thêm từ 10.000 - 15.000 đồng/kg so với đầu tháng 7/2022.

Giá heo tăng khiến giá thịt thương phẩm tại các chợ dân sinh cũng tăng vọt trong những ngày gần đây. Hiện, giá thịt tại các chợ dao động từ 120.000-160.000 đồng/kg; riêng tại các cửa hàng thực phẩm sạch, các siêu thị bán lẻ thì giá thịt heo được điều chỉnh tăng thêm 10.000-15.000 đồng/kg, theo đó, dao động từ 150.000-195.000 đồng/kg (tuỳ loại).

Các sản phẩm chế biến từ thịt heo như giò chả, xúc xích, mọc… cũng tăng thêm từ 15.000 - 20.000 đồng/kg do giá thịt tăng và các nguyên liệu tăng. Điều này khiến người tiêu dùng khá cân nhắc khi lựa chọn thịt heo trong bữa ăn hàng ngày, theo báo Nghệ An.

Giá heo hơi hôm nay tại miền Nam tăng mạnh
Thị trường heo hơi khu vực miền Nam điều chỉnh tăng ở hầu hết các tỉnh thành.

Theo đó, các tỉnh gồm Tây Ninh, Hậu Giang, Bình Phước, Bình Dương, Long An, Đồng Tháp và Vĩnh Long tăng từ 1.000 đồng/kg đến 3.000 đồng/kg lên khoảng 65.000 - 67.000 đồng/kg.

Sau khi tăng 2.000 - 4.000 đồng/kg, ba tỉnh Đồng Nai, Vũng Tàu và Cần Thơ hiện thu mua heo hơi với giá 69.000 - 70.000 đồng/kg.

Còn tại An Giang và Cà Mau, giá giao dịch lần lượt là 67.000 đồng/kg và 68.000 đồng/kg, tăng mạnh từ 5.000 đồng/kg đến 6.000 đồng/kg trong hôm nay.

Giá heo hơi hôm nay tại miền Nam dao động trong khoảng 65.000 - 70.000 đồng/kg.
Nhìn chung, giá heo hơi hôm nay ở ba miền tăng mạnh trên diện rộng. Hiện tại, giá khảo sát ở các tỉnh thành dao động trong khoảng 64.000 - 74.000 đồng/kg.

Hội chứng giảm đẻ (Egg Drop Syndrome – EDS) trên gà ảnh hưởng đến hiệu suất đẻ trứng, giảm hiệu quả kinh tế của người nu...
06/07/2022

Hội chứng giảm đẻ (Egg Drop Syndrome – EDS) trên gà ảnh hưởng đến hiệu suất đẻ trứng, giảm hiệu quả kinh tế của người nuôi.

Nguyên nhân

EDS do virus thuộc nhóm Adenovirus subgroup III gây ra.

Ðối tượng

Bệnh xảy ra ở đàn gà đẻ công nghiệp (thương phẩm) và gà đẻ trứng giống trong giai đoạn 26 – 35 tuần tuổi (giai đoạn khai thác trứng).

Ðường lây truyền

Lây truyền dọc: Bệnh lây truyền từ đàn bố mẹ sang đàn con thông qua trứng nhiễm bệnh (trứng bất thường).
Lây truyền ngang: Bệnh cũng có thể lây lan từ đàn gà bệnh sang đàn gà khỏe thông qua thức ăn, dụng cụ chăn nuôi (máng ăn, uống…), phương tiện vận chuyển đã bị nhiễm khuẩn từ phân và các chất bài tiết khác của đàn gà bệnh.

Triệu chứng

Vỏ trứng bị mất màu, trứng nhỏ.
Tiếp theo đó là vỏ mỏng, vỏ mềm hoặc không có vỏ cứng, hình dạng méo mó.
Bề mặt vỏ mỏng thường xù xì, nhám, có nhiều hạt lắng đọng trên bề mặt vỏ.
Tỷ lệ đẻ trứng ở đàn gà giảm đột ngột 20 – 40% (tương đương với 12 – 16 trứng/gà), có khi lên đến 50%, lòng trắng loãng, tỷ lệ ấp nở giảm.
Một số con gà có biểu hiện tiêu chảy nhất thời, mào gà nhợt nhạt (chiếm 10 – 70% trường hợp). Nhìn chung sức khỏe gà không thay đổi nhiều so với trước. Bệnh thường kéo dài khoảng 6 – 12 tuần.Bệnh tích

Khi mổ khám, quan sát thấy:
Buồng trứng và ống dẫn trứng bị teo nhỏ;
Đôi khi tử cung bị viêm, phù thũng; trứng non không phát triển.
Phòng bệnh

Hiện, bệnh chưa có biện pháp điều trị đặc hiệu. Vì vậy, người nuôi cần thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa để có hiệu quả trong việc ngăn chặn bệnh.

Phòng bệnh bằng vaccine: Tiêm phòng cho đàn gà đẻ khi chúng trong giai đoạn 15 – 16 tuần tuổi. Hiện nay trên thị trường có các loại vaccine đơn giá phòng Hội chứng giảm đẻ riêng, cũng như vaccine đa giá phòng 3 bệnh Newcastle (ND), viêm phế quản truyền nhiễm (IB) và hội chứng giảm đẻ (EDS).
Virus lây qua trứng nên có thể áp dụng các biện pháp để phòng bệnh như: Chọn gà giống từ những cơ sở giống chất lượng, không bị nhiễm virus, gà con phải được chọn từ những đàn gà được tiêm phòng cẩn thận; đảm bảo vệ sinh phòng bệnh trong quá trình vận chuyển trứng, quá trình tiêm phòng.
Thường xuyên vệ sinh môi trường chăn nuôi sạch sẽ. Cọ rửa, sát trùng máng ăn, máng uống thường xuyên. Ðịnh kỳ 2 lần/tuần phun các loại thuốc sát trùng, diệt khuẩn để tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh tồn tại trong môi trường xung quanh. Cọ rửa, sát trùng máng ăn, máng uống thường xuyên.
Ðảm bảo thức ăn, nước uống phù hợp, đầy đủ dinh dưỡng. Trong quá trình nuôi, định kỳ bổ sung vitamin, khoáng, điện giải nhằm tăng sức đề kháng cho vật nuôi, chống lại stress khi môi trường có sự thay đổi.

Mùa mưa còn được gọi là mùa dịch bệnh của ngành chăn nuôi, gây thiệt hại kinh tế rất lớn cho người chăn nuôi. Để góp phầ...
06/07/2022

Mùa mưa còn được gọi là mùa dịch bệnh của ngành chăn nuôi, gây thiệt hại kinh tế rất lớn cho người chăn nuôi. Để góp phần vào việc khống chế dịch bệnh, và hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra, đảm bảo đàn heo phát triển tối đa, người chăn nuôi cần biết những thông tin cơ bản về một số bệnh truyền nhiễm, nguy hiểm thường xảy ra trên heo trong mùa mưa và biện pháp phòng bệnh.

Top 6 Sâu Bệnh Hại Cây Trồng Thường Gặp Ở Vùng Đồi Núi1. Một Số Loại Sâu Hại Thường Gặp Ở Cây TrồngSâu Vẽ BùaLoài sâu gâ...
06/07/2022

Top 6 Sâu Bệnh Hại Cây Trồng Thường Gặp Ở Vùng Đồi Núi
1. Một Số Loại Sâu Hại Thường Gặp Ở Cây Trồng
Sâu Vẽ Bùa
Loài sâu gây hại quanh năm, mức độ gây hại phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết và thức ăn của sâu. Nhiệt độ thích hợp cho sâu vẽ bùa phát sinh gây hại là 23 – 29ºC, ẩm độ 85-90%. Nó thường tấn công chồi non của lá, hoa và quả. Sâu vẽ bùa là vật trung gian truyền bệnh loét ở các cây ăn quả; nổi bật là các loại cây thuộc họ cam quýt.

Sâu Đục Thân, Sâu Đục Cành, Sâu Đục Gốc
Loài sâu hại nguy hiểm nhất trong quá trình thâm canh. Xuất hiện nhiều ở cây có múi như cam, chanh, quýt, bưởi, đào, mai…. Mức độ lây lan rất nhanh, khó nhận biết và phòng trừ sâu hại. Bởi vì, chúng nằm sâu bên trong cành, thân, gốc cây. Cho nên quá trình chăm sóc hay phun thuốc cũng không thể thấm vào bên trong. Dẫn đến cây kém phát triển, còi cọc, hoa bị rụng, quả nhỏ, kém chất lượng. Nếu tình trạng bị hại nặng, thì cây trồng có thể bị chết và lây lan cả khu vực thâm canh.

Sâu Cuốn Lá
Loại sâu phổ biến, thường bất gặp ở các loại cây lương thực,hoa màu. Chúng gây hại bằng cách nhả tơ, kết mép lá lại theo chiều dọc thành ống để sinh sống và gây hại bên trong. Chúng gây hại ở phần thịt lá, chỉ chừa lại lớp biểu bì. Dẫn đến lá của cây trồng khô, hạt bị lép, sinh trưởng kém, và có thể bị chết đi vì thiếu chất dinh dưỡng.

2. Một Số Loại Bệnh Hại Thường Gặp Ở Cây Trồng
Bệnh Rệp Sáp
Loại bệnh nghiêm trọng nhất là cây ăn quả có múi (cam, quýt, bưởi, cà phê, điều,…). Chúng hút nhựa làm các bộ phận của cây, rồi dần dần bị héo, vàng úa và còi cọc. Bệnh rệp sáp bắt đầu gây hại nặng nhất vào các tháng mùa khô và đầu mùa mưa. Bệnh rệp sáp chia ra thành 2 giai đoạn:

Giai đoạn ký sinh: xuất hiện ở gốc cây, khe và phần rễ dưới mặt đất, sau đó lên tiếp đến phần rễ bên trên. Dấu hiệu là cây trồng sẽ chuyển từ màu xanh dần dần sang màu vàng.

Giai đoạn trưởng thành: xuất hiện ở cuống hoa. Đến giai đoạn hoa nở, chúng sẽ bắt đầu hút nhựa, cây sẽ mất đi dưỡng chất không nuôi được quả hoặc quả kém phát triển.Rầy Phấn Trắng
Loại bệnh hại sinh sản nhanh và có khả năng lây lan nhanh chóng, làm cho lá bị úa. Rầy phấn trắng hút nhựa và tiết mật ở cả cây non và cây già. Điều đó, thu hút kiến và rệp đến để gây hại cho cây. Chúng thường có phấn và sáp bao che, lại hay bám vào mặt dưới của lá. Việc phòng ngừa và điều trị cũng khá khó khăn cho bà con nông dân. Sau khi có cánh, chúng bay sang môi trường mới để gây hại. Chính vì vậy, rầy phấn trắng là tác nhân truyền bệnh và vius gián tiếp từ cây này sang cây khác.

Rệp Vẩy
Rệp vẩy có nhiều loại và nhiều màu sắc khác nhau. Rệp vẩy xuất hiện nhiều trên lá, cuống, thân có vảy màu đen, xanh hoặc nâu. Dẫn đến cây trồng còi cọc, kém phát triển, mất năng suất và có thể chết. Vì vậy, chúng ta cần có biện pháp phòng ngừa và điều trị rệp vẩy kịp thời và nhanh chóng.

1. Muốn heo tăng trọng nhanh nên nuôi chúng với thành phần thức ăn gì?Thức ăn cần thiết để nuôi heo cao sản gồm có các c...
19/11/2021

1. Muốn heo tăng trọng nhanh nên nuôi chúng với thành phần thức ăn gì?

Thức ăn cần thiết để nuôi heo cao sản gồm có các chất: bột đường, chất đạm, chất béo, chất khoáng và vitamine. Thức ăn mà thiếu một hay vài những chất này trong nhiều ngày liền sẽ ảnh hưởng xấu đến sức tăng trọng của heo.

2. Tác dụng của chất bột đường trong thức ăn của heo là gì?

Chất bột đường rất cần thiết cho sự sinh trưởng của heo. Thức ăn nuôi heo mà thiếu chất bột đường trầm trọng heo sẽ không được cung cấp đủ nhiệt lượng và nhiệt năng, từ đó dẫn đến việc heo con, heo lứa thường mắc chứng cảm lạnh, cơ thể suy nhược, sức đề kháng yếu nên dễ mắc nhiều thứ tật bệnh. Heo mẹ ăn thiếu chất bột đường sẽ bị chứng viêm vú do cơ thể không đồng hoá được chất đạm để tạo sữa …

3. Những thức ăn thuộc nhóm chất bột đường gồm có những gì?

*Gạo, tấm gạo: Gạo, tốt nhất là gạo lứt và tấm gạo chứa trên 71% chất vột đường nên nấu chí cho heo ăn rất tốt.
*Cám gạo: Cám gạo có 2 loại: cám to và cám nhuyễn. Cám to có chứa nhiều vỏ trấu nên tỷ lệ chất bột đường thấp, riêng loại cám nhuyễn chứa trên 53% chất bột đường, vì vậy cho heo ăn thường xuyên nhiều chất bổ dưỡng. Loại cám cũ đã hôi dầu, ôi mốc không nên cho heo ăn, đã mất chất dinh dưỡng còn bị ngộ độc nữa.
*Bột bắp vàng: Bắp nuôi heo nên xay thành bột nấu chín mới cho heo ăn. Trong bột bắp chứa đến 74% chất bột đường và nhiều vitamine A, B1, B2. Bắp được coi là thức ăn chính để nuôi heo vì giàu năng lượng và nhiệt lượng. Giá bắp lại rẻ hơn giá gạo lứt và được trồng quanh năm khắp cả nước.
*Khoai lang: Khoai lang cũng được trồng nhiều và bán với giá rẻ. Khoai lang có thể cho heo ăn sống hoặc phơi khô dự trữ cho ăn dần. Trong khoai lang xắt lát phơi khô chứa đến 81,27% chất bột đường. Có điều không nên xem đây là thức ăn chính để nuôi heo vì các thành phần đạm và chất béo chưa trong khoai lang rất thấp.
*Khoai mì (sắn): Nên nuôi heo bằng khoai mì xắt lắt phơi khô (chứa 73,56% chất bột đường). Nêu nấu chín khoai mì khô rồi trộn chung với các thức ăn khác cho heo ăn rất tốt. Khoai mì tươi, nhất là phần vỏ bên ngoài chứa rất nhiều độc tố, muốn cho heo ăn phải ngâm vào nước nhiều ngày, mỗi ngày thay nước mới nhiều lần mới xả hết chất độc. Cũng như khoai lang, khoai mì chỉ chứa nhiều chất bột đường, các thành phần khác rất thấp nên không thể xem đây là thức ăn chính nuôi heo.
4. Tác dụng của chất đạm trong thức ăn của heo là gì?

Trong khẩu phần ăn hàng ngày của heo, chất đạm đóng vai trò rất quan trọng, nên không thể thiếu được. Nếu thức ăn thiếu chất đạm, các tế bào của tất cả các cơ quan trong cơ thể heo sẽ không được nuôi dưỡng và tu bổ đúng mức nên cơ thể heo suy yếu dần, dẫn đến ốm đau rồi chết. Chất đạm do thực phẩm cung cấp cho heo hàng ngày đã góp phần tạo ra xương, thịt, da, lông, máu huyết nhờ đó mà heo sinh trưởng tốt và tăng trọng nhanh. Nên nuôi heo với hai nguồn đạm là đạm động vật và đạm thực vật.

5. Những thức ăn nào thuộc nhóm đạm động vật?

Đạm động vật dùng nuôi heo được lấy từ cá, thịt dưới dạng bột, gọi là bột cá, bột thịt và sữa bột.

*Bột cá: Trong khẩu phần ăn hàng ngày của heo, bột cá chiếm từ 5 đến 8 phần trăm. Bột cá dùng để nuôi heo là bột cá lạt, được làm ra từ các loại cá tạp, sau khi phơi nhiều nắng hoặc sấy khô rồi xay nhỏ thành bột. Trong bột cá có chứa đến 51,13% đạm và còn nhiều chất dinh dưỡng khác nữa, trong đó có vitamine B2, nên được coi là thức ăn có nhiều dinh dưỡng giúp heo phát triển tốt. Tuy vậy, không nên cho heo ăn bột cá quá liều lượng cho phép. Nên nuôi heo với loại bột ca còn mới, còn dậy mùi thơm, và đổ bỏ loại bột cá đã quá cũ, bốc mùi khó ngửi. Heo thịt sắp xuất chuồng nên ngưng cho ăn bột cá vài ngày để thịt không bị tanh mùi cá.
*Bột thịt: Bột thịt chứa 59,04% đạm chất khoáng và sinh tố nên dùng nuôi heo rất tốt. Bột thịt được làm ra từ các phế phẩm của lò mổ heo, bò … sau khi được rửa sạch, phơi sấy khô và xay thành bột.
*Bột sữa: Bột sữa hay sữa bột là loại sữa đã được lấy hết chất béo (kem) dùng để nuôi heo con. Trong sữa bột có chứa đến 31 phần trăm đạm, ngoài ra còn có sinh tố và khoáng chất. Heo con được ăn sữa bột sẽ tăng trọng nhanh, trơn da mướt lông. Trong nhóm đạm động vật vừa kể, sữa bột có giá cao hơn cả.
6. Những thức ăn nào thuộc nhóm đạm thực vật?

Đạm thực vật có nhiều trong khô bánh dầu, trong đậu xanh, đậu nành, và có số lượng vừa phải trong gạo, tấm gạo, cám, bắp …

*Bánh đậu phộng: Bánh dầu phộng là xác hột đậu phộng đã được ép gần hết phần dầu, nhưng tỷ lệ đạm còn lại cũng khá cao, trên 35%. Bánh dầu phộng còn mới có mùi vị thơm ngon nên heo thích ăn. Nếu bảo quản không tốt hoặc để lâu ngày bột mốc meo thì nên loại bỏ, cho heo dễ bị ngộ độc. Khô bánh dầu đã bị mốc chỉ để làm phân bón mà thôi.
*Bánh dầu dừa: Bánh dầu dừa là phần xác của cơm dừa khô đã được ép gần hết phần dầu. Trong bánh dầu dừa chứa khoảng 18% đạm, hơn 6 phần trăm chất béo và khá nhiều chất xơ (10 – 20%). Nuôi heo chỉ với nguồn đạm bánh dầu dừa thôi không đủ, mà cần pha trộn thêm bánh dầu phộng với bột cá, bột thịt mới đủ chất dinh dưỡng mới giúp heo sinh trưởng tốt.
*Đậu xanh: Đậu xanh thương phẩm có giá cao, nên nuôi heo dùng mày đậu xanh thế vào. Trong mày đậu xanh có chứa 14,20% đạm, có nhiều chất béo (13,24%) nên nuôi heo rất tốt.
*Đậu nành: Đậu nành nguyện hột giá đắt nên nuôi heo không lợi, mặc dầu tỷ lệ đạm chiếm khác cao (trên 33%). Nuôi heo bằng xác đậu nành chỉ chứa 16,22% chất đạm nhưng rẻ tiền. Đây được coi là thức ăn bổ túc đạm cho thức ăn căn bản nuôi heo, vì vậy cần thêm bột cá, bột thịt, cám, khoáng và vitamine mới đủ chất bổ dưỡng.
7. Tác dụng của chất béo trong thực phẩm của heo là gì?

Cũng như chất bột đường, tác dụng của chất béo trong thực phẩm nuôi heo là cung cấp nhiệt lượng và nhiệt năng giúp heo sống sởn sơ và mập mạnh. Thế nhưng không nên cho heo ăn nhiều chất béo, nhất là heo thịt, vì nếu dư dùng heo sẽ mập mỡ và có thể bị bệnh tiêu chảy.

8. Những thức ăn gì của heo chứa nhiều chất béo?

Tỷ lệ chất béo trong mày đậu xanh là 13,24%. Bánh dầu phộng chứa 12,40% chất béo. Cám nhuyễn: 10,27%. Bột thịt: 9,26%. Bột cá: 7,2%. Bánh dầu dừa: 6,10%. Trong bột bắp, tấm gạo chất béo chỉ đạt dưới 4% mà thôi.

TÌM HIỂU VỀ BỆNH GÀ LIỆT CHÂN1. Căn bệnh Vi rút gây bệnh thuộc nhóm herpes gây ra. Đến nay người ta đã phân lập được 3 t...
17/11/2021

TÌM HIỂU VỀ BỆNH GÀ LIỆT CHÂN
1. Căn bệnh

Vi rút gây bệnh thuộc nhóm herpes gây ra. Đến nay người ta đã phân lập được 3 týp vi rút herpes (trong đó chỉ có týp 1 là týp có độc lực).

2. Cách truyền lây

Vi rút có trong các nang lông, có thể lan truyền rất xa trong không khí. Bệnh lây lan trực tiếp từ gà ốm sang gà khoẻ bằng con đướng hít thở. Ngoài ra bệnh còn lây lan gián tiếp qua thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi và cơ sở ấp trứng có chứa mầm bệnh. Căn bệnh truyền theo phân không có vai trò lớn, tuy nhiên trên lớp độn chuồng sau 4 tháng vẫn còn tìm thấy vi rút có độc lực.

3. Triệu chứng

Bệnh Marek thường ủ bệnh sau khi nhiễm 3- 4 tuần ,tiến triển chủ yếu ở hai thể cấp tính và mãn tính:

a) Thể cấp tính chủ yếu ở gà 4 – 8 tuần tuổi, có thể sớm hơn. Bệnh ít có triệu chứng điển hình, ngoài hiện tượng chết đột ngột. Tỷ lệ chết thường cao, có khi tới 20 – 30%, thường thể hiện triệu chứng ủ rũ và gầy yếu trước khi chết. Gà thường bỏ ăn, ỉa phân lỏng và giảm tỷ lệ đẻ, đi lại khó khăn, bại liệt, xã cánh một bên do viêm dây thần kinh vận động.

b) Thể mãn tính hay thể cổ điển chủ yếu xảy ra ở gà 4 – 8 tháng tuổi thường ở hai thể, thể thần kinh và thể mắt.

– Thể thần kinh: gà bệnh đi lại khó khăn, liệt nhẹ rồi dần dần bại liệt hoàn toàn. Đuôi gà có thể bị rủ xuống hoặc lệnh sang một bên. Cánh sã xuống một bên hoặc cả hai bên.

– Thể viêm mắt: Trong nhiều ổ dịch gà thường viêm mắt. Bệnh bắt đầu bằng hiện tượng viêm mắt nhẹ. Con vật tỏ ra rất mẫn cảm với ánh sáng, chảy nước mắt trong. Dần dần viêm màng tiếp hợp rồi viêm mống mắt. Mủ trắng đóng dầy khoé mắt, khả năng nhìn kém dần, không mổ trúng thức ăn và cuối cùng có thể bị mù.

4. Bệnh tích

– Thể cấp tính: bệnh tích chủ yếu là hình thành các khối u ở nội tạng. U thường có ở gan, lách, thận, phổi, buồng trứng, túi fabricius, dịch hoàn … gan, lách sưng to hơn nhiều lần so với bình thường, nhạt màu và bở.

-Thể mãn tính: bệnh tích chủ yếu là hiện tượng viêm tăng sinh các dây thần kinh ngoại vi. Dây thần kinh hông, thần kinh cánh bị sưng to, có khi to hơn 4 – 5 lần so với bình thường và có thể bị phù thũng.

5. Chẩn đoán

Chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng, mổ khám bệnh tích bằng việc phát hiện các khối u ở da, gan, thận, phổi, buồng trứng, lá lách, trong cơ các tổ chức mềm khác của gà bị bệnh Marek.

6. Phòng, trị bệnh

Bệnh không có thuốc chữa đặc hiệu.

Cần thực hiện tốt các biện pháp phòng bệnh sau đây :

Khi chưa có dịch xảy ra:

– Tiêm vắc xin phòng bệnh Marek bắt buộc cho gà con 1 ngày tuổi dùng để sinh sản (gà ông bà, bố mẹ, gà nuôi lấy trứng) tại cơ sở ấp trứng.

– Thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp vệ sinh phòng bệnh thú y, chăm sóc nuôi dưỡng để ngăn chặn bệnh Marek lây lan trong khu chuồng nuôi. Hàng ngày quét, nhặt thu dọn lông và đốt hết lông vì vi rút tồn tại lâu trong chân lông.

– Đối với các trại gà chăn nuôi công nghiệp nhất thiết phải có khu riêng biệt nuôi gà mái đẻ và khu nuôi gà con, phải tuyệt đối chấp hành nguyên tắc: cùng nhập, cùng xuất (gà đưa vào nuôi cùng một lúc, xuất ra cùng một lúc). Sau khi xuất chuồng phải tiến hành tổng tẩy uế chuồng trại, dụng cụ và môi trường chăn nuôi bằng các loại thuốc khử trùng ,sau đó chuồng trại phải để trống ít nhất 1 tháng. Riêng đối với đàn đã nhiễm bệnh trước đó để trống chuồng ít nhất 3 tháng và thường xuyên vệ sinh tiêu độc khử trùng.

– Thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học. Chú ý không nuôi gà lớn, gà con lẫn lộn.

Khi có bệnh xảy ra:

– Giám sát phát hiện sớm;

– Cách ly đàn mắc bệnh, không được vận chuyển gà trong đàn nhiễm bệnh ra ngoài;
– Tiêu huỷ toàn bộ đàn mắc bệnh (bằng cách đốt, sau đó chôn giống như đối với bệnh cúm gia cầm), đồng thời xử lý các chất tồn dư (phân, rác vv..);

– Vệ sinh tiêu độc khử trùng chuồng trại định kỳ 1 – 2 lần/1 tuần;

– Cấm nhập gà giống về nuôi trong thời gian xử lý đàn gà bệnh;

– Để trống chuồng ít nhất 3 tháng.

HƯỚNG DẪN CHĂN NUÔI NGAN TRÊN SÀN HIỆU QUẢ1/ Chuẩn bị con giốngCon giống là yếu tố quyết định của thành bại trong chăn n...
16/11/2021

HƯỚNG DẪN CHĂN NUÔI NGAN TRÊN SÀN HIỆU QUẢ
1/ Chuẩn bị con giống
Con giống là yếu tố quyết định của thành bại trong chăn nuôi, vì vậy phải chọn con giống khỏe, nhanh nhẹn, không dị tật, không hở rốn.
2/ Chuẩn bị chuồng nuôi:
Tùy theo quy mô chăn nuôi để thiết kế chuồng nuôi cho phù hợp. Diện tích cho sàn nuôi được tính 4 - 5 con/m2 không tính hành lang kỹ thuật, một ô sàn nuôi không nên quá 100 con.
Hệ thống quạt thông gió rất quan trọng đối với nuôi nhốt để khống chế độ ẩm và mùi.
Vì là dòng thủy cầm nên ngan luôn cần nước đủ để uống tự do và phun tắm khi cần thiết.
Nguồn điện luôn chủ động để bảo đảm cho quạt lưu thông gió và duy trì nguồn nước.
3/ Chuẩn bị quây úm
Khi úm ngan nên sử chất độn chuồng là rơm hoặc dạ băm nhỏ, phun thuốc sát trùng và để khô trước khi sử dụng ngoài ra có thể úm ngan trên sàn nhựa lỗ nhỏ tránh cho ngan lọt chân xuống.
Phun sát trùng chuồng trại, rửa sạch dụng cụ chăn nuôi, máng ăn, máng uống có pha thuốc sát trùng, làm sạch phơi khô trước khi nuôi 2 tuần. chuồng nuôi phải thoáng mát, đủ ánh sáng, không có gió lùa.
Trước khi đưa ngan con vào phải sưởi ấm chuồng.
4/ Nhiệt độ chuồng nuôi
Để đảm bảo cho ngan mạnh khoẻ nhiệt độ chuồng nuôi khi ngan:
Từ 1 - 3 ngày tuổi phải đạt 31 - 32 độC .
Từ 4 - 8 ngày tuổi phải đạt 29 - 30 độC.
Từ 9 - 13 ngày tuổi phải đạt 27 - 28 độC.
14 - 28 ngày tuổi phải đạt 25 - 26 độC
(Nhiệt độ chuồng nuôi được đo ở độ cao ngang đầu ngan).
Trên 28 ngày ngan sống trong điều kiện tự nhiên.
5/ Ẩm độ không khí
Ẩm độ thích hợp cho ngan con là 60 - 70%, song ở nước ta ẩm độ không khí rất cao có khi lên tới 80 - 90%. Khi độ ẩm cao cần phải đảo chất độn chuồng và cho thêm chất độn chuồng khô hàng ngày để giữ cho ngan ấm chân và sạch lông.
6/ Mật độ và độ lớn của đàn
Hai yếu tố mật độ và độ lớn của đàn tác động trực tiếp đến khả năng sinh trưởng và chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Cơ cấu đàn nhỏ có thể tăng mật độ và ngược lại.
Tuần 1, mật độ từ 20 - 25 con/m2
Tuần 2, mật độ từ 10 - 15 con/m2
Tuần 1, mật độ từ 6 - 7 con/m2
Giai đoạn tuổi hình thức nuôi mật độ tối đa 5 con/ m2 (không tính diện tích hỗ trợ kỹ thuật).
7/ Chế độ chiếu sáng
Tuần thứ 1 chiếu sáng 24/24 giờ.
Tuần thứ 2 chiếu sáng 20/24 giờ.
Tuần thứ 3 chiếu sáng 16/24 giờ.
Từ tuần 4 trở lên ngan sống trong điều kiện ánh sáng tự nhiên.
8/ Không khí
Lượng cung cấp không khí phụ thuộc vào độ ẩm và quyết định bởi chất độn chuồng. Lượng không khí trao đổi phải đảm bảo sạch cho những khí thải của phân được đưa ra ngoài và nhiệt độ cần cho ngan ở mức cho phép.
Trong giai đoạn ngan con 1 - 14 ngày tuổi, tốc độ gió không được quá 0,3 m/s
9/ Nước uống
Đảm bảo sạch và ngan được uống nước tự do, ở tuần tuổi thứ nhất không cho ngan uống nước lạnh dưới 150 C.
10/ Thức ăn và nuôi dưỡng
Thức ăn cho ngan tốt nhất là dùng thức ăn công nghiệp của các công ty có uy tín cung cấp, chia làm 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1 - 21 ngày tuổi: Thức ăn đạt 20% đạm tiêu hoá, năng lượng 2.890 kcal.
+ Giai đoạn 22 - 56 ngày tuổi: Thức ăn đạt 16% đạm tiêu hoá, năng lượng 2.890 Kcal.
Ngan thương phẩm thức ăn đạt 15% đạm tiêu hoá, năng lượng 3.000 kcal.
11/ Kỹ thuật cho ăn
Trước khi cho ngan ăn phải dọn máng, quét bỏ những thức ăn thừa, hôi, thối và mốc, cho ngan ăn làm nhiều lần trong ngày để tránh rơi vãi và ôi chua, tách những con nhỏ cho ăn riêng để ngan phát triển đồng đều.
Đối với ngan nuôi thương phẩm cho ngan ăn tự nhiên.
12/ Kiểm tra ngan
Trạng thái đàn ngan cho phép đánh giá về sức khoẻ ngan, hàng ngày thường xuyên kiểm tra.
- Ngan con phân tán đều khắp chuồng chứng tỏ đàn ngan khoẻ mạnh, thoải mái, nhiệt độ trong chuồng đạt yêu cầu.
- Ngan con dồn đống là do lạnh, nhiệt độ chuồng nuôi thấp.
- Ngan con nằm há mỏ, cánh dơ lên là do nhiệt độ chuồng nuôi quá cao.
- Ngan không chơi hoặc nằm ở khu vực nhất định là chắc chắn có gió lùa.
- Ngan bị bết dính là do chuồng ẩm, chế độ nuôi dưỡng kém.
13/ Lịch vaccine
Từ 7 - 10 ngày tuổi tiêm vaccine phòng bệnh viêm gan.
Từ 12 - 14 ngày tuổi tiêm vaccine phòng bệnh dịch tả.
Từ 32 - 35 ngày tuổi tiêm vaccine phòng bệnh dịch tả.
Từ 42 - 45 ngày tuổi tiêm vaccine phòng bệnh viêm gan.
Trước đẻ ngày 3 tuần tiêm vaccine phòng bệnh dịch tả.
Chú ý: Vaccine cúm H5N1 tham khảo ý kiến thú y địa phương.
* Vaccine viêm gan, dịch tả, ngan, vịt: nếu bố mẹ chưa tiêm thì nên tiêm vaccin viêm gan lúc 1 ngày tuổi.
Tiêm, vaccine dịch tả vịt vào 3 - 5 ngày tuổi và nhắc lại sau 2 tuần (loại dùng cho các lứa tuổi vịt).
(Có 2 cách, tiêm dưới da, hoặc bắp ức).
* Vaccine dịch tả vịt: Vịt nuôi đẻ, vaccine dịch tả được tiêm nhắc lại 4 - 5 tháng/lần.
* Có thể tiêm vaccine vào ổ dịch để dập dịch.
* Cần chủ động kiểm soát sức khoẻ vịt khi tiêm vaccine. Làm đúng hướng dẫn của nhà sản xuất.
* Cần nắm vững và làm đúng hướng dẫn của nhà nhà sản xuất thuốc, vaccine.

Nguyên nhân nào dẫn tới gà còi cọc chậm lớnCó khá nhiều nguyên nhân dẫn tới gà bị còi cọc chậm lớn, như gà bị giun sán, ...
15/11/2021

Nguyên nhân nào dẫn tới gà còi cọc chậm lớn
Có khá nhiều nguyên nhân dẫn tới gà bị còi cọc chậm lớn, như gà bị giun sán, gà mắc bệnh mãn tính, gà lười ăn, gà bị bệnh ecoli, hoặc gà bị còi cọc ngay từ khi mới nở….

Nguyên nhân giun sán: gà có nhiều giun sán trong đường ruột sẽ dẫn tới gà còi cọc chậm lớn. Khi bị giun sán thì hệ tiêu hóa sẽ làm việc kém hơn, bao nhiêu chất dinh dưỡng của thức ăn đều bị giun sán hấp thụ hết, do vậy gà không thể lớn. Để khắc phục vấn đề này, người chăn nuôi phải thường xuyên tẩy giun sán cho gia cầm định kỳ.
Nguyên nhân ấp nở: lý do tiếp theo có thể dẫn tới vấn đề này là quá trình ấp nở chưa tốt. Trong quá trình ấp trứng gà bằng máy ấp trứng hay lò ấp thủ công, nếu bị thiếu nhiệt hay quá nhiệt cũng làm gà con nở không đạt tiêu chuẩn, dẫn tới gà sẽ phát triển không bình thường trong suốt quá trình. Để khắc phục vấn đề này, các bạn điều chỉnh lại nhiệt độ ấp cho máy ấp, nếu mua con giống ở cơ sở thì cần chọn những con giống khỏe mạnh, to con, lông bông, mắt sáng, nhanh nhẹn…như vậy sẽ đảm bảo gà phát triển tốt.
Gà bị mắc bệnh mãn tính: gà bị mắc những bệnh mãn tính sẽ chậm lớn, cơ thể khó hấp thu chất dinh dưỡng dẫn tới còi cọc chậm lớn. Vấn đề này các bạn cần tìm hiểu thêm các triệu trứng khác để biết gà đang mắc bệnh gì mới có thể khắc phục triệt để.
Gà bị bệnh đã chữa khỏi: gà bị mắc bệnh sau một thời gian và được chữa khỏi, tuy nhiên thì không phải cứ khỏi bệnh là gà đã phát triển bình thường, nhiều trường hợp sau bệnh gà sẽ chậm lớn và trở nên còi cọc. Cách khắc phục tốt nhất vấn đề này là tách chúng ra nuôi riêng, nếu vẫn chậm lớn thì sớm loại bỏ.
Mật độ nuôi quá lớn: khi mật độ nuôi lớn sẽ dẫn tới gà không có không gian để chơi và phát triển bình thường, dần dần xuất hiện những con kém ăn hoặc không tranh được với những con khác. Biện pháp khắc phục là nuôi mật độ vừa phải, máng ăn nên bố trí rải rác để con nào cũng được ăn thoải mái. Như vậy gà mới phát triển bình thường.
Trên đây là một vài ý kiến giúp người chăn nuôi hiểu rõ hơn những vấn đề dẫn tới gà còi cọc chậm lớn, chúng ta sớm khắc phục hoặc có biện pháp phòng tránh ngay từ đầu sẽ đảm bảo chăn nuôi đạt hiệu quả cao hơn. Chúc các bạn chăn nuôi thành công.

Address

Khu 31ha Học Viện Nông Nghiệp/Gia Lâm _ Hanoi
Gia Lâm
100000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Siêu thị thuốc thú y - Thủy sản - Chế phẩm nông nghiệp posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Siêu thị thuốc thú y - Thủy sản - Chế phẩm nông nghiệp:

Share