CHĂN NUÔI THỊNH VƯỢNG

CHĂN NUÔI THỊNH VƯỢNG Tổng phân phối những chế phẩm sinh học cho gia súc, gia cầm, thủy sản...

https://www.youtube.com/watch?v=39QjryWDuHA&t=671s
18/07/2022

https://www.youtube.com/watch?v=39QjryWDuHA&t=671s

VTC16 | GIÁ LỢN HƠI TĂNG, NGƯỜI CHĂN NUÔI VẪN KHÔNG THỂ HƯỞNG LỢIMấy ngày nay, giá heo hơi ở các tỉnh miền Đông Nam bộ tăng khoảng 10.000 đồng/kg. Giá heo hơ...

16/07/2022

Giá lợn tăng phi mã - Lợn chưa đạt cân xuất chuồng. Người nông dân phải làm gì?
💥 Siêu tăng trưởng vật nuôi - Xuất chuồng nhanh - Giảm lượng cám - Lợi nhuận cao
✔️ Không chất cấm, Đã được kiểm chứng
✔️ Vỗ béo vật nuôi, tăng chất lượng thịt
✔️ Tăng sức đề kháng, khỏe mạnh
✔️ Nhiều nạc, nở ức, b**g đùi
👉 Giảm lượng thức ăn, rút ngắn thời gian chăn nuôi
🔥 CÓ ĐẦY ĐỦ TẤT CẢ SẢN PHẨM CHO GIA SÚC, GIA CẦM,.....
HIỆU QUẢ THẤY RÕ SAU 7-10 NGÀY SỬ DỤNG
➡ Nhận hàng kiểm tra thanh toán
-------------------------------------------------
☎ HOTLINE: 0967.184.334
📍Nhà máy: Nghĩa Phương, Lục Nam, Bắc Giang
🏠 Kho: Khu 31ha - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam - Trâu Quỳ - Gia Lâm - Hà Nội

16/07/2022

💥 Siêu tăng trưởng vật nuôi - Xuất chuồng nhanh - Giảm lượng cám - Lợi nhuận cao
✔️ Không chất cấm, Đã được kiểm chứng
✔️ Vỗ béo vật nuôi, tăng chất lượng thịt
✔️ Tăng sức đề kháng, khỏe mạnh
✔️ Nhiều nạc, nở ức, b**g đùi
👉 Giảm lượng thức ăn, rút ngắn thời gian chăn nuôi
🔥 CÓ ĐẦY ĐỦ TẤT CẢ SẢN PHẨM CHO GIA SÚC, GIA CẦM,.....
HIỆU QUẢ THẤY RÕ SAU 7-10 NGÀY SỬ DỤNG
➡ Nhận hàng kiểm tra thanh toán
-------------------------------------------------
☎ HOTLINE: 0967.184.334
📍Nhà máy: Nghĩa Phương, Lục Nam, Bắc Giang
🏠 Kho: Khu 31ha - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam - Trâu Quỳ - Gia Lâm - Hà Nội

TÌM HIỂU VỀ BỆNH GÀ LIỆT CHÂN1. Căn bệnh Vi rút gây bệnh thuộc nhóm herpes gây ra. Đến nay người ta đã phân lập được 3 t...
17/11/2021

TÌM HIỂU VỀ BỆNH GÀ LIỆT CHÂN
1. Căn bệnh

Vi rút gây bệnh thuộc nhóm herpes gây ra. Đến nay người ta đã phân lập được 3 týp vi rút herpes (trong đó chỉ có týp 1 là týp có độc lực).

2. Cách truyền lây

Vi rút có trong các nang lông, có thể lan truyền rất xa trong không khí. Bệnh lây lan trực tiếp từ gà ốm sang gà khoẻ bằng con đướng hít thở. Ngoài ra bệnh còn lây lan gián tiếp qua thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi và cơ sở ấp trứng có chứa mầm bệnh. Căn bệnh truyền theo phân không có vai trò lớn, tuy nhiên trên lớp độn chuồng sau 4 tháng vẫn còn tìm thấy vi rút có độc lực.

3. Triệu chứng

Bệnh Marek thường ủ bệnh sau khi nhiễm 3- 4 tuần ,tiến triển chủ yếu ở hai thể cấp tính và mãn tính:

a) Thể cấp tính chủ yếu ở gà 4 – 8 tuần tuổi, có thể sớm hơn. Bệnh ít có triệu chứng điển hình, ngoài hiện tượng chết đột ngột. Tỷ lệ chết thường cao, có khi tới 20 – 30%, thường thể hiện triệu chứng ủ rũ và gầy yếu trước khi chết. Gà thường bỏ ăn, ỉa phân lỏng và giảm tỷ lệ đẻ, đi lại khó khăn, bại liệt, xã cánh một bên do viêm dây thần kinh vận động.

b) Thể mãn tính hay thể cổ điển chủ yếu xảy ra ở gà 4 – 8 tháng tuổi thường ở hai thể, thể thần kinh và thể mắt.

– Thể thần kinh: gà bệnh đi lại khó khăn, liệt nhẹ rồi dần dần bại liệt hoàn toàn. Đuôi gà có thể bị rủ xuống hoặc lệnh sang một bên. Cánh sã xuống một bên hoặc cả hai bên.

– Thể viêm mắt: Trong nhiều ổ dịch gà thường viêm mắt. Bệnh bắt đầu bằng hiện tượng viêm mắt nhẹ. Con vật tỏ ra rất mẫn cảm với ánh sáng, chảy nước mắt trong. Dần dần viêm màng tiếp hợp rồi viêm mống mắt. Mủ trắng đóng dầy khoé mắt, khả năng nhìn kém dần, không mổ trúng thức ăn và cuối cùng có thể bị mù.

4. Bệnh tích

– Thể cấp tính: bệnh tích chủ yếu là hình thành các khối u ở nội tạng. U thường có ở gan, lách, thận, phổi, buồng trứng, túi fabricius, dịch hoàn … gan, lách sưng to hơn nhiều lần so với bình thường, nhạt màu và bở.

-Thể mãn tính: bệnh tích chủ yếu là hiện tượng viêm tăng sinh các dây thần kinh ngoại vi. Dây thần kinh hông, thần kinh cánh bị sưng to, có khi to hơn 4 – 5 lần so với bình thường và có thể bị phù thũng.

5. Chẩn đoán

Chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng, mổ khám bệnh tích bằng việc phát hiện các khối u ở da, gan, thận, phổi, buồng trứng, lá lách, trong cơ các tổ chức mềm khác của gà bị bệnh Marek.

6. Phòng, trị bệnh

Bệnh không có thuốc chữa đặc hiệu.

Cần thực hiện tốt các biện pháp phòng bệnh sau đây :

Khi chưa có dịch xảy ra:

– Tiêm vắc xin phòng bệnh Marek bắt buộc cho gà con 1 ngày tuổi dùng để sinh sản (gà ông bà, bố mẹ, gà nuôi lấy trứng) tại cơ sở ấp trứng.

– Thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp vệ sinh phòng bệnh thú y, chăm sóc nuôi dưỡng để ngăn chặn bệnh Marek lây lan trong khu chuồng nuôi. Hàng ngày quét, nhặt thu dọn lông và đốt hết lông vì vi rút tồn tại lâu trong chân lông.

– Đối với các trại gà chăn nuôi công nghiệp nhất thiết phải có khu riêng biệt nuôi gà mái đẻ và khu nuôi gà con, phải tuyệt đối chấp hành nguyên tắc: cùng nhập, cùng xuất (gà đưa vào nuôi cùng một lúc, xuất ra cùng một lúc). Sau khi xuất chuồng phải tiến hành tổng tẩy uế chuồng trại, dụng cụ và môi trường chăn nuôi bằng các loại thuốc khử trùng ,sau đó chuồng trại phải để trống ít nhất 1 tháng. Riêng đối với đàn đã nhiễm bệnh trước đó để trống chuồng ít nhất 3 tháng và thường xuyên vệ sinh tiêu độc khử trùng.

– Thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học. Chú ý không nuôi gà lớn, gà con lẫn lộn.

Khi có bệnh xảy ra:

– Giám sát phát hiện sớm;

– Cách ly đàn mắc bệnh, không được vận chuyển gà trong đàn nhiễm bệnh ra ngoài;
– Tiêu huỷ toàn bộ đàn mắc bệnh (bằng cách đốt, sau đó chôn giống như đối với bệnh cúm gia cầm), đồng thời xử lý các chất tồn dư (phân, rác vv..);

– Vệ sinh tiêu độc khử trùng chuồng trại định kỳ 1 – 2 lần/1 tuần;

– Cấm nhập gà giống về nuôi trong thời gian xử lý đàn gà bệnh;

– Để trống chuồng ít nhất 3 tháng.

HƯỚNG DẪN CHĂN NUÔI NGAN TRÊN SÀN HIỆU QUẢ1/ Chuẩn bị con giốngCon giống là yếu tố quyết định của thành bại trong chăn n...
16/11/2021

HƯỚNG DẪN CHĂN NUÔI NGAN TRÊN SÀN HIỆU QUẢ
1/ Chuẩn bị con giống
Con giống là yếu tố quyết định của thành bại trong chăn nuôi, vì vậy phải chọn con giống khỏe, nhanh nhẹn, không dị tật, không hở rốn.
2/ Chuẩn bị chuồng nuôi:
Tùy theo quy mô chăn nuôi để thiết kế chuồng nuôi cho phù hợp. Diện tích cho sàn nuôi được tính 4 - 5 con/m2 không tính hành lang kỹ thuật, một ô sàn nuôi không nên quá 100 con.
Hệ thống quạt thông gió rất quan trọng đối với nuôi nhốt để khống chế độ ẩm và mùi.
Vì là dòng thủy cầm nên ngan luôn cần nước đủ để uống tự do và phun tắm khi cần thiết.
Nguồn điện luôn chủ động để bảo đảm cho quạt lưu thông gió và duy trì nguồn nước.
3/ Chuẩn bị quây úm
Khi úm ngan nên sử chất độn chuồng là rơm hoặc dạ băm nhỏ, phun thuốc sát trùng và để khô trước khi sử dụng ngoài ra có thể úm ngan trên sàn nhựa lỗ nhỏ tránh cho ngan lọt chân xuống.
Phun sát trùng chuồng trại, rửa sạch dụng cụ chăn nuôi, máng ăn, máng uống có pha thuốc sát trùng, làm sạch phơi khô trước khi nuôi 2 tuần. chuồng nuôi phải thoáng mát, đủ ánh sáng, không có gió lùa.
Trước khi đưa ngan con vào phải sưởi ấm chuồng.
4/ Nhiệt độ chuồng nuôi
Để đảm bảo cho ngan mạnh khoẻ nhiệt độ chuồng nuôi khi ngan:
Từ 1 - 3 ngày tuổi phải đạt 31 - 32 độC .
Từ 4 - 8 ngày tuổi phải đạt 29 - 30 độC.
Từ 9 - 13 ngày tuổi phải đạt 27 - 28 độC.
14 - 28 ngày tuổi phải đạt 25 - 26 độC
(Nhiệt độ chuồng nuôi được đo ở độ cao ngang đầu ngan).
Trên 28 ngày ngan sống trong điều kiện tự nhiên.
5/ Ẩm độ không khí
Ẩm độ thích hợp cho ngan con là 60 - 70%, song ở nước ta ẩm độ không khí rất cao có khi lên tới 80 - 90%. Khi độ ẩm cao cần phải đảo chất độn chuồng và cho thêm chất độn chuồng khô hàng ngày để giữ cho ngan ấm chân và sạch lông.
6/ Mật độ và độ lớn của đàn
Hai yếu tố mật độ và độ lớn của đàn tác động trực tiếp đến khả năng sinh trưởng và chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Cơ cấu đàn nhỏ có thể tăng mật độ và ngược lại.
Tuần 1, mật độ từ 20 - 25 con/m2
Tuần 2, mật độ từ 10 - 15 con/m2
Tuần 1, mật độ từ 6 - 7 con/m2
Giai đoạn tuổi hình thức nuôi mật độ tối đa 5 con/ m2 (không tính diện tích hỗ trợ kỹ thuật).
7/ Chế độ chiếu sáng
Tuần thứ 1 chiếu sáng 24/24 giờ.
Tuần thứ 2 chiếu sáng 20/24 giờ.
Tuần thứ 3 chiếu sáng 16/24 giờ.
Từ tuần 4 trở lên ngan sống trong điều kiện ánh sáng tự nhiên.
8/ Không khí
Lượng cung cấp không khí phụ thuộc vào độ ẩm và quyết định bởi chất độn chuồng. Lượng không khí trao đổi phải đảm bảo sạch cho những khí thải của phân được đưa ra ngoài và nhiệt độ cần cho ngan ở mức cho phép.
Trong giai đoạn ngan con 1 - 14 ngày tuổi, tốc độ gió không được quá 0,3 m/s
9/ Nước uống
Đảm bảo sạch và ngan được uống nước tự do, ở tuần tuổi thứ nhất không cho ngan uống nước lạnh dưới 150 C.
10/ Thức ăn và nuôi dưỡng
Thức ăn cho ngan tốt nhất là dùng thức ăn công nghiệp của các công ty có uy tín cung cấp, chia làm 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1 - 21 ngày tuổi: Thức ăn đạt 20% đạm tiêu hoá, năng lượng 2.890 kcal.
+ Giai đoạn 22 - 56 ngày tuổi: Thức ăn đạt 16% đạm tiêu hoá, năng lượng 2.890 Kcal.
Ngan thương phẩm thức ăn đạt 15% đạm tiêu hoá, năng lượng 3.000 kcal.
11/ Kỹ thuật cho ăn
Trước khi cho ngan ăn phải dọn máng, quét bỏ những thức ăn thừa, hôi, thối và mốc, cho ngan ăn làm nhiều lần trong ngày để tránh rơi vãi và ôi chua, tách những con nhỏ cho ăn riêng để ngan phát triển đồng đều.
Đối với ngan nuôi thương phẩm cho ngan ăn tự nhiên.
12/ Kiểm tra ngan
Trạng thái đàn ngan cho phép đánh giá về sức khoẻ ngan, hàng ngày thường xuyên kiểm tra.
- Ngan con phân tán đều khắp chuồng chứng tỏ đàn ngan khoẻ mạnh, thoải mái, nhiệt độ trong chuồng đạt yêu cầu.
- Ngan con dồn đống là do lạnh, nhiệt độ chuồng nuôi thấp.
- Ngan con nằm há mỏ, cánh dơ lên là do nhiệt độ chuồng nuôi quá cao.
- Ngan không chơi hoặc nằm ở khu vực nhất định là chắc chắn có gió lùa.
- Ngan bị bết dính là do chuồng ẩm, chế độ nuôi dưỡng kém.
13/ Lịch vaccine
Từ 7 - 10 ngày tuổi tiêm vaccine phòng bệnh viêm gan.
Từ 12 - 14 ngày tuổi tiêm vaccine phòng bệnh dịch tả.
Từ 32 - 35 ngày tuổi tiêm vaccine phòng bệnh dịch tả.
Từ 42 - 45 ngày tuổi tiêm vaccine phòng bệnh viêm gan.
Trước đẻ ngày 3 tuần tiêm vaccine phòng bệnh dịch tả.
Chú ý: Vaccine cúm H5N1 tham khảo ý kiến thú y địa phương.
* Vaccine viêm gan, dịch tả, ngan, vịt: nếu bố mẹ chưa tiêm thì nên tiêm vaccin viêm gan lúc 1 ngày tuổi.
Tiêm, vaccine dịch tả vịt vào 3 - 5 ngày tuổi và nhắc lại sau 2 tuần (loại dùng cho các lứa tuổi vịt).
(Có 2 cách, tiêm dưới da, hoặc bắp ức).
* Vaccine dịch tả vịt: Vịt nuôi đẻ, vaccine dịch tả được tiêm nhắc lại 4 - 5 tháng/lần.
* Có thể tiêm vaccine vào ổ dịch để dập dịch.
* Cần chủ động kiểm soát sức khoẻ vịt khi tiêm vaccine. Làm đúng hướng dẫn của nhà sản xuất.
* Cần nắm vững và làm đúng hướng dẫn của nhà nhà sản xuất thuốc, vaccine.

Nguyên nhân nào dẫn tới gà còi cọc chậm lớnCó khá nhiều nguyên nhân dẫn tới gà bị còi cọc chậm lớn, như gà bị giun sán, ...
15/11/2021

Nguyên nhân nào dẫn tới gà còi cọc chậm lớn
Có khá nhiều nguyên nhân dẫn tới gà bị còi cọc chậm lớn, như gà bị giun sán, gà mắc bệnh mãn tính, gà lười ăn, gà bị bệnh ecoli, hoặc gà bị còi cọc ngay từ khi mới nở….

Nguyên nhân giun sán: gà có nhiều giun sán trong đường ruột sẽ dẫn tới gà còi cọc chậm lớn. Khi bị giun sán thì hệ tiêu hóa sẽ làm việc kém hơn, bao nhiêu chất dinh dưỡng của thức ăn đều bị giun sán hấp thụ hết, do vậy gà không thể lớn. Để khắc phục vấn đề này, người chăn nuôi phải thường xuyên tẩy giun sán cho gia cầm định kỳ.
Nguyên nhân ấp nở: lý do tiếp theo có thể dẫn tới vấn đề này là quá trình ấp nở chưa tốt. Trong quá trình ấp trứng gà bằng máy ấp trứng hay lò ấp thủ công, nếu bị thiếu nhiệt hay quá nhiệt cũng làm gà con nở không đạt tiêu chuẩn, dẫn tới gà sẽ phát triển không bình thường trong suốt quá trình. Để khắc phục vấn đề này, các bạn điều chỉnh lại nhiệt độ ấp cho máy ấp, nếu mua con giống ở cơ sở thì cần chọn những con giống khỏe mạnh, to con, lông bông, mắt sáng, nhanh nhẹn…như vậy sẽ đảm bảo gà phát triển tốt.
Gà bị mắc bệnh mãn tính: gà bị mắc những bệnh mãn tính sẽ chậm lớn, cơ thể khó hấp thu chất dinh dưỡng dẫn tới còi cọc chậm lớn. Vấn đề này các bạn cần tìm hiểu thêm các triệu trứng khác để biết gà đang mắc bệnh gì mới có thể khắc phục triệt để.
Gà bị bệnh đã chữa khỏi: gà bị mắc bệnh sau một thời gian và được chữa khỏi, tuy nhiên thì không phải cứ khỏi bệnh là gà đã phát triển bình thường, nhiều trường hợp sau bệnh gà sẽ chậm lớn và trở nên còi cọc. Cách khắc phục tốt nhất vấn đề này là tách chúng ra nuôi riêng, nếu vẫn chậm lớn thì sớm loại bỏ.
Mật độ nuôi quá lớn: khi mật độ nuôi lớn sẽ dẫn tới gà không có không gian để chơi và phát triển bình thường, dần dần xuất hiện những con kém ăn hoặc không tranh được với những con khác. Biện pháp khắc phục là nuôi mật độ vừa phải, máng ăn nên bố trí rải rác để con nào cũng được ăn thoải mái. Như vậy gà mới phát triển bình thường.
Trên đây là một vài ý kiến giúp người chăn nuôi hiểu rõ hơn những vấn đề dẫn tới gà còi cọc chậm lớn, chúng ta sớm khắc phục hoặc có biện pháp phòng tránh ngay từ đầu sẽ đảm bảo chăn nuôi đạt hiệu quả cao hơn. Chúc các bạn chăn nuôi thành công.

BIỂU HIỆN VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ BỆNH KHÔ CHÂN, KHÔ MỎ, XÙ LÔNG Ở GÀ CONGia cầm sau khi ấp nở sẽ được chuyển qua giai đoạn úm....
13/11/2021

BIỂU HIỆN VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ BỆNH KHÔ CHÂN, KHÔ MỎ, XÙ LÔNG Ở GÀ CON
Gia cầm sau khi ấp nở sẽ được chuyển qua giai đoạn úm. Rất nhiều bà con chủ quan trong giai đoạn này dẫn tới hiện tượng chết sớm, khô chân ở gà, khô lông, khô mỏ, kém ăn ở con con. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ hiện tượng này để bà con tránh được thiệt hại đáng tiếc
1. Biểu hiện của bệnh khô chân ở gà
– Con con lúc mới đem đi úm rất nhanh nhẹn, hoạt bát. Sau một thời gian chúng đứng hoặc nằm im một chỗ, mắt nhắm nghiền, lười ăn.
– Phía da chân và mỏ khô quắt, gia cầm gầy còm, teo tóp, lông xù lên. Tỷ lệ chết khoảng 5 đến 30%.
– Độ tuổi mắc bệnh từ 2-15 ngày tuổi, chủ yếu là từ 2-7 ngày tuổi.

2. Mổ khám xác nhận bệnh khô chân ở gà
– Xác gia cầm rất nhẹ, lông xù.
– Diều không có thức ăn.
– Bụng nặng, lòng đỏ không tiêu.
– Ruột quắt, viêm cata đến viêm xuất huyết.
– Các cơ quan khác không có gì biểu hiện gì đặc biệt

3. Nguyên nhân gây bệnh.
– Sai sót trong quá trình ấp trứng hoặc sử dụng máy ấp chất lượng kém. Nhiệt độ không đều dẫn tới con non yếu.
– Quá trình vận chuyển từ lò nở tới chuồng nuôi không đảm bảo kỹ thuật.
– Thiếu nhiệt hoặc thừa nhiệt trong quá trình úm.
– Cho gà ăn muộn, thiếu chất hoặc mất cân bằng dinh dưỡng.
– Máng ăn, máng uống không hợp lý. Gia cầm không được ăn uống đều, dẫn tới con to con nhỏ, không đều đàn.
– Không sử dụng thuốc úm chuyên dụng, gà dễ bị tiêu chảy, thương hàn, bệnh lỵ, bệnh di truyền từ phôi.
– Môi trường úm gà bẩn, không thường xuyên thay nền, nhiều mầm bệnh phát sinh trong khi sức đề kháng của con non còn rất yếu.

4. Cách điều trị bệnh gà con khô chân, khô mỏ, chết non.
– Phải duy trì nhiệt độ úm hợp lý cho gà, vịt, ngan con: Ngày đầu đủ 37°C, sau mỗi ngày giảm đi 1oC sao cho đến lúc 7 ngày tuổi nhiệt độ vẫn đủ 30 – 31°C, đến ngày thứ 14 đủ 25 – 27°C và từ ngày 21 trở đi tùy theo thời tiết, nhưng ban đêm phải đảm bảo nhiệt độ không dưới 22°C.
– Phải cho ăn thức ăn đủ chất, đặc biệt là đạm phải đủ 22% (thức ăn khởi động), cho ăn nhiều lần, mỗi lần một ít, cho ăn ngay sau khi đưa vào quây úm và sau khi được uống nước thuốc. Thời điểm cho ăn tốt nhất là 24h sau khi nở.
– Đối với gà, phải nhỏ ngay vacxin Gumboro A hoặc 228E và ND-IB vào mồm, mũi, nếu đã dùng rồi thì vẫn phải nhắc lại, không phụ thuộc vào thời gian trước đó đã dùng. Đối với vịt, ngan: nhỏ mồm ngay vacxin chống viêm gan.
Cách 1:
+ T. Colivit: 20g/100kg gà, vịt, ngan, ngỗng/ngày.
+ T. Cúm gia súc: 20g/100kg gà, vịt, ngan, ngỗng/ngày.
+ Super-Vitamin: 20g/100kg gà, vịt, ngan, ngỗng/ngày.
Cả 3 loại pha chung với nước hoặc trộn đều trong thức ăn cho uống hoặc ăn cả ngày, dùng liên tục 3 ngày là khỏi.
Cách 2:
– Thay T. Colivit bằng T. Umgiaca hoặc T. Avimycin hoặc T. Flox. C hoặc TIC. Các thuốc khác giữ nguyên.

5. phòng bệnh
– Nếu ấp bằng máy ấp trứng, cần chọn thương hiệu chất lượng. Máy tốt sẽ duy trì được nhiệt độ ổn định trong suốt quá trình ấp. Con con khỏe mạnh, sức đề kháng cao. Anh chị có thể tham khảo Máy ấp trứng Ánh Dương của công ty chúng tôi ở đây. Chúng tôi đang có chương trình tặng thuốc úm chuyên dụng cho khách hàng đặt mua trong hôm nay. Đây là loại thuốc cực tốt, tỉ lệ sống tới 98%, không bán lẻ, chỉ bán cho trang trại.
– Thực hiện đúng quy trình vận chuyển, úm gà, vịt, ngan như sau:
+ Khi vận chuyển phải có xe chuyên dụng, tránh gió, tránh rét, tránh ướt.
+ Về đến cơ sở chăn nuôi đã chuẩn bị sẵn quây, chuồng úm với đủ các điều kiện: Quây úm có đèn, có đủ nhiệt 37°C, có đủ máng ăn, máng uống, chất độn khô.
– Phải cho gà, vịt, ngan uống ngay toa thuốc dưới đây trước khi ăn và sau khi thả gia cầm vào quây hoặc chuồng úm.
+ 2g T. Umgiaca hoặc T. Colivit.
+ 1,5g T. Cúm gia súc hoặc Anti-Gum.
+ 1,5g Doxyvit hoặc Super-Vitamin.

Tất cả 3 loại thuốc trên pha vào 1 lít nước cho gia cầm uống tự
do liên tục trong 3 ngày đêm đầu.
– Sau khi uống đủ nước 10-15 phút thì cho gia cầm ăn, chú ý phải đủ số mẹt, máng ăn để sao cho tất cả gà, vịt, ngan được ăn cùng một lúc. Thức ăn phải đủ 22% đạm và đủ chất dinh dưỡng, khoáng và vitamin. Nguyên tắc: cho ăn ít một, chia làm nhiều lần trong ngày đêm, nuôi úm phải thực hiện nuôi 3 ca (tức 24/24 giờ).

PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH THƯƠNG HÀN GÀ1.  Phương thức truyền lây -  Lây lan qua đường tiêu hóa như thức ăn, nước uống, dụng cụ ...
12/11/2021

PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH THƯƠNG HÀN GÀ
1. Phương thức truyền lây
- Lây lan qua đường tiêu hóa như thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi mang mầm bệnh.
- Lây nhiễm do nhốt chung gà bệnh.
- Lây nhiễm qua trứng do gà mẹ nhiễm bệnh, vi trùng từ buồng trứng xâm nhập vào phôi.
- Quan trọng nhất là lây nhiễm qua phân chứa mầm bệnh.
2. Triệu chứng
- Bệnh ở gà con: Do trứng bị nhiễm vi trùng thường hàn nên khi sinh gà con ốm yếu, ủ rũ, không ăn, tụ tập gần đèn sưởi ấm. Phần lớn gà bị sốt cao, tiêu chảy lúc đầu loãng thối vàng sau tiêu chảy trắng bạch. Phân dính bết vào hậu môn làm tắc hậu môn, bụng to dần rồi chết (thường chết vào ngày tuổi thứ 4- 5).
- Bệnh ở gà lớn: thường ở thể mãn tính, gà suy nhược, mào yếm nhợt nhạt, tiêu chảy thường xuyên phân màu xanh lục, một số bụng gà mái to, giảm đẻ trứng. Vỏ trứng xù xì, dính máu ở vỏ hay trong lòng đỏ.
3. Bệnh tích
* Gà con
- Gan, lách sưng to có nhiều điểm hoại tử trắng lấm tấm như đinh ghim.
- Phổi, tim, thành dạ dày, cơ màng bụng cũng có nhiều điểm hoại tử trắng xám nhạt.
- Màng ngoài tim dày đục chứa nhiều dịch rỉ vàng.
- Ruột viêm có các mảng trắng trên niêm mạc ruột, viêm khớp, lách sưng to, thận sung huyết đỏ. Dạ dày thức ăn bị cô động lại màu vàng.
* Gà lớn
- Da sậm màu gầy còm (do bại huyết), gan sưng có hoại tử màu trắng xám và vàng nhạt, túi mật to, ruột viêm đỏ, loét rộng.
- Viêm phúc mạc, viêm cơ tim, dịch hoàn có nốt hoại tử và có thể bị teo.
- Viêm buồng trứng, ống dẫn trứng, nang trứng méo mó dị hình và dễ vỡ ở ống dẫn trứng làm tắc ống dẫn trứng và tích lại bên trong xoang bụng chứa nhiều nước làm bụng xệ. Lòng đỏ trứng lưu lại ở gà con mới nở chết.
4. Phòng, điều trị bệnh
- phòng bệnh: Đây là bệnh rất khó loại trừ được mầm bệnh. Cần loại thải ngay những con gà bị bệnh ngay khi mới phát hiện. Thường xuyên vệ sinh tiêu độc chuồng trại và các dụng cụ chăn nuôi.
- Điều trị bệnh: Dùng kháng sinh thuộc nhóm: Amynoglucozit (Kanamycin, Gentamycin…). Kết hợp dùng thuốc trợ sức cho gà: B.comlex A, D, E, C; Electrolyte

VỆ SINH THỨC ĂN, NƯỚC UỐNG TRONG CHĂN NUÔI GÀCách nguyên liệu dùng làm  cám gà đều chứa nhiều chất bổ dưỡng, mà hầu hết ...
09/11/2021

VỆ SINH THỨC ĂN, NƯỚC UỐNG TRONG CHĂN NUÔI GÀ
Cách nguyên liệu dùng làm cám gà đều chứa nhiều chất bổ dưỡng, mà hầu hết đều dễ bị ôi mốc nếu để lâu ngày. Vì vậy cần có sự bảo quản tốt.
Thường thì cám gà trộn một lần nên dùng đến hai ba tháng sau mà thôi. Thức ăn cũ quá sẽ bị mốc meo mất hết chất bổ dưỡng, nên gà ăn vào đã vô bổ lại còn bị nhiễm độc lăn ra chết hàng loạt như bị bệnh dịch vậy. Ăn phải thức ăn thiu thối, ôi mốc, gà sẽ bị sưng diều sình ruột, tiêu chảy … không có cách này chữa trị được.
Thức ăn nuôi gà cần được chứa trong lu khạp, thùnh phuy rồi chọn nơi cao ráo tháong mát trong nhà, trong trại mà cất giữ. Ngoài ra, những vật chứa đó cần được đậy kỹ kẻo chuột, kiến, giám bò vào ăn, vừa làm hao bớt thức ăn vừa gieo rắc vi trùng từ ngoài vào, nhất là từ những trại gà xung quanh đang bị dịch khí hoành hành.
Thức ăn nuôi gà, hết ngày còn thừa lại bao nhiêu cũng phải đổ bỏ đừng tiếc. Vì vậy, ta nên liệu chừng đong lường cho đúng, sao cho gà trong chuồng không bị thiếu thức ăn, mà dư thì hốt bỏ đi cũng uổng phí.
Thật ra, cách tính toán khẩu phần ăn cho gà cũng không khó. Vì như kinh nghiệm cho ta thấy:
Gà con hai tuần tuổi trở lên (cân nặng khoảng 70g) mỗi ngày trung bình ăn hết 18g cám gà
Gà giò ba tháng tuổi (cân nặng 1,5kg) mỗi ngày trung bình ăn hết 80g cám gà.
Gà mái đẻ (cân nặng hơn 2kg) mỗi ngày trung bình ăn hết 180g cám …
Cứ theo đó mà ta có thể tính ra sức ăn của bầy gà trong chuồng của mình là bao nhiêu để cho ăn đúng mức yêu cầu của chúng. Có điều mỗi chiều ta cũng nên theo dõi số cám còn tồn đọng trong mái ăn của gà còn lại bao nhiêu, để từ đó liệu cách gia giảm cho đủ. Thà để cám thừa ra chứ đừng để cho gà trong chuồng bị thiếu ăn.
Thức ăn của gà trong ngày còn thừa trong máng thường không còn sạch, không còn khô ráo, mùi thơm biến mất mà đã bốc mùi chua. Vì thức ăn của gà là cám khô nên chúng thường khát nước. Hễ ăn cám một lúc thì gà lại đi tìm máng nước để uống. Sau đó nó lại trở về máng ăn với cái mỏ còn dính nước nên cám trong máng thường bị thấm nước, vài giờ sau bị chua, bị lên men.
Số cám còn thừa này nếu tiếc mà để qua hôm sau cho gà ăn lại, chắc chắn gà không tránh khỏi bị ngộ độc. Như vậy, lợi đâu không thấy mà chỉ thấy hại mà thôi.
Cám dư ta nên đổ vào hố chứa hay thùng có nắp đậy kỹ để ngăn chặn chuột không lọt vào được.
Đây là cách triệt nguồn thức ăn để chuột khỏi léo hánh đến chuồng gà. Nếu tạo cơ hội cho chuột năng lui tới chuồng gà thì lũ mèo hoang cũng có cớ lui tới rình rập để vồ chuột, đồng thời cũng giết hại gà con. Nhưng, cái hại phải kể đến trước hết là lũ mèo chuột cứ chạy tới chạy lui lăng xăng sẽ ít nhiều gây náo động trong chuồng gà, khiến gà phải sợ hãi.
Đó là giữ vệ sinh thức ăn cho gà. Còn vệ sinh nước uống cũng là khâu cần được quan tâm đúng mức.
Nước dùng cho gà uống là thứ nước tinh khiết dành cho người dùng. Nói cách khác, loại nước gì ta uống được thì mới đổ vào máng cho gà uống. Đó là nước máy, nước mưa, nước giếng.
Chỉ trong trường hợp cần phòng bệnh hoặc tăng cường sức khoẻ cho gà ta mới pha thuốc vào máng nước cho gà uống trong một thời gian nhất định nào đó mà thôi. Bình thường thì chỉ cho gà uống duy nhất một thứ nước lã (nếu đun sôi để nguội rồi cho uống thì tốt hơn).
Cũng như động vật khác, gà có thể nhịn ăn được một vài ngày, nhưng không thể chịu khát một ngày. Hễ bị khát nước là gà chóng mất sức. Như gà con mới nở một hai ngày đầu không ăn không sao, nhưng không cho uống nước thì chúng sẽ chết.
Do thức ăn của gà là cám khô nên gà uống nước rất nhiều. Vì vậy, ta nên đổ đầy máng nước cho gà uống thoả thích. Nên châm nước sạch vào máng nước nhiều lần trong ngày.
Mỗi sáng, ta lấy máng nước ra cọ rửa sạch, trước khi thay mới vào cho gà uống.
Nhiều người cẩn thận hơn, mỗi sáng họ thay máng nước mới vào chuồng gà, lấy máng cũ ra cọ rửa sạch rồi phơi nắng tiệt trùng để dành dùng cho hôm sau.
Máng nước uống của gà mà hằng ngày không được cọ rửa sạch sẽ thì nước uống đổ vào mau chua, khiến gà uống phải dễ sinh bệnh, như ăn phải loại cám ướt, ôi, mốc vậy.
Việc giữ vệ sinh thức ăn nước uống cho gà càng chu đáo thì đàn gà trong chuồng sẽ sinh trưởng tốt, tăng trọng nhanh và có năng suất trứng cao.

Dịch bệnh – Nỗi lo của những người làm nghề nuôi trồng thủy sảnDịch bệnh bủa vây khiến người nuôi tôm thẻ chân trắng lo ...
08/11/2021

Dịch bệnh – Nỗi lo của những người làm nghề nuôi trồng thủy sản
Dịch bệnh bủa vây khiến người nuôi tôm thẻ chân trắng lo lắng ngày đêm. Họ bắt buộc phải chuyển hướng, tìm cơ hội ở các đối tượng mới như tôm sú, cá bớp, cua hoặc kết hợp tôm – cá. Song, bên cạnh những tín hiệu vui, người nuôi trồng thủy sản vẫn khắc khoải với nỗi lo đầu ra bấp bênh hay dịch bệnh tái bùng phát…
Vậy đâu là những khó khăn mà người dân đang phải đương đầu?
Nghề nuôi trồng thủy sản đem lại lợi nhuận khá cao và ngày càng phát triển. Tuy nhiên, người nuôi thường gặp phải những vấn đề về dịch bệnh trước và sau mùa mưa lũ. Ảnh hưởng đến kinh tế. Để nuôi trồng thủy sản đạt hiệu quả cao trong và sau mùa mưa lũ thì chế độ chăm sóc, quản lý dịch bệnh. Đặc biệt, quản lý ao nuôi trong và sau mùa mưa lũ là điều hết sức cần thiết.
Môi trường sống của động vật đi đôi với sự thay đổi của thời tiết là một trong những yếu tố ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc nuôi trồng thủy sản. Người nuôi trồng chắc hẳn ai cũng biết và cần có biện pháp phòng chống ngăn chặn dịch bệnh cho động vật nuôi trồng.
Triệu chứng là đỏ vi, đỏ mỏ, phù đầu, bỏ ăn, trương bụng, xuất huyết các cơ quan… Khi mùa mưa đến, thời tiết thay đổi thất thường nên tôm, cá nuôi trong ao dễ bị bệnh. Có khi gây nên một đợt dịch lớn. Ảnh hưởng đến tôm, cá nuôi. Nhất là cá nuôi trong lồng bè. Các bệnh thường gặp ở cá là là bệnh do ký sinh trùng, nhiễm khuẩn… Gây tác hại lớn đối với nhóm cá có vảy như cá he, rô phi, bống tượng, lóc bông.
Cách phòng ngừa bệnh
Cho tôm, cá ăn đầy đủ. Tránh cho tôm, cá ăn những thức ăn bị hư, thối. Đồng thời, bổ sung thêm vitamin C vào thức ăn của tôm, cá.
Lợi nhuận mang lại từ nghề nuôi trồng thủy sản không phải là một con số nhỏ. Tuy nhiên, không phải cứ đầu tư vào là sẽ sinh lời. Nếu như người nuôi trồng không tự mình học các kỹ thuật nuôi trồng hay biện pháp phòng ngừa khi mùa dịch đang có nguy cơ lộng hành, khó tránh khỏi được rủi ro. Thế nhưng, trước khi bắt tay vào nuôi trồng thì người dân phải có được trong tay mình những kỹ thuật nuôi trồng cơ bản.

Address

31ha Thị Trấn Trâu Quỳ/Gia Lâm/
Hanoi
100000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when CHĂN NUÔI THỊNH VƯỢNG posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share