Công ty Cổ phần Xây dựng NAGROUP

Công ty Cổ phần Xây dựng NAGROUP Thi công công trình; Tư vấn thiết kế; Tư vấn Giám sát và các lĩnh vực tư vấn khác

Từ 1/1/2018, nhiều vi phạm trong đấu thầu bị xử lý hình sự
27/12/2017

Từ 1/1/2018, nhiều vi phạm trong đấu thầu bị xử lý hình sự

(BĐT) - Từ ngày 1/1/2018, Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự 2015) sẽ chính thức có hiệu lực thi hành. Với chế tài mới, tại Điều 222 của B...

Có bắt buộc ghi nhật ký giám sát công trình?(Chinhphu.vn) – Trừ trường hợp hệ thống quản lý chất lượng của đơn vị tư vấn...
10/12/2017

Có bắt buộc ghi nhật ký giám sát công trình?

(Chinhphu.vn) – Trừ trường hợp hệ thống quản lý chất lượng của đơn vị tư vấn giám sát hoặc hợp đồng xây dựng giữa các bên có quy định khác, tư vấn giám sát không phải lập nhật ký giám sát thi công xây dựng công trình.

Ông Đinh Cao Phong (Quảng Ninh) tham khảo Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng thì không thấy quy định việc người tư vấn giám sát phải ghi chép nhật ký giám sát. Nhưng Điều 30 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP về xử lý vi phạm trong hoạt động xây dựng lại quy định phạt 5 -10 triệu đồng nếu không có nhật ký tư vấn giám sát.

Ông Phong hỏi, văn bản pháp quy hiện hành nào quy định việc ghi chép nhật ký giám sát và Thông tư nào hướng dẫn về biểu mẫu nhật ký giám sát?

Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau:

Hiện nay, Luật Xây dựng năm 2014 và các văn bản hướng dẫn Luật Xây dựng không quy định việc tư vấn giám sát phải có nhật ký giám sát thi công xây dựng công trình.

Vì vậy, trừ trường hợp hệ thống quản lý chất lượng của đơn vị tư vấn giám sát hoặc hợp đồng xây dựng giữa các bên có quy định khác, tư vấn giám sát không phải lập nhật ký giám sát thi công xây dựng công trình.

http://mnews.chinhphu.vn/story.aspx?did=324152

(Chinhphu.vn) – Trừ trường hợp hệ thống quản lý chất lượng của đơn vị tư vấn giám sát hoặc hợp đồng xây dựng giữa các bên có quy định khác, tư vấn giám sát không phải lập nhật ký giám sát thi công xây dựng công trình.

16/10/2017

LUẬT HÌNH SỰ
------------------
Ngày ban hành: 27/11/2015
Ngày hiệu lực: 01/01/2018
-------------------
Trích Điều 222/Luật Hình sự
"Điều 222. Tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng
1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây, gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Can thiệp trái pháp luật vào hoạt động đấu thầu;
b) Thông thầu;
c) Gian lận trong đấu thầu;
d) Cản trở hoạt động đấu thầu;
đ) Vi phạm quy định của pháp luật về bảo đảm công bằng, minh bạch trong hoạt động đấu thầu;
e) Tổ chức lựa chọn nhà thầu khi nguồn vốn cho gói thầu chưa được xác định dẫn đến nợ đọng vốn của nhà thầu;
g) Chuyển nhượng thầu trái phép."

Theo quy định của pháp luật thì dự toán xây dựng chỉ được điều chỉnh theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 32/2015/NĐ-C...
13/10/2017

Theo quy định của pháp luật thì dự toán xây dựng chỉ được điều chỉnh theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng.

Về lĩnh vực chuyên môn, khi dự toán tính sai thì phải tính lại dự toán, người và đơn vị tính sai phải bồi thường thiệt hại.

(Chinhphu.vn) – Ông Phạm Văn Tuấn (Ninh Bình) đề nghị cơ quan chức năng giải đáp một số vướng mắc trong hoạt động xây dựng liên quan đến trách nhiệm lập dự toán điều chỉnh, bổ sung của nhà thầu; điều chỉnh giá hợp đồng, điều chỉnh dự toán xây dựng.

Đổi mới cơ chế xác định chi phí tư vấn đầu tư xây dựng. TS. LÊ VĂN CƯ & ThS. HOÀNG XUÂN HIỆPVIỆN KINH TẾ XÂY DỰNG, BỘ XÂ...
15/07/2017

Đổi mới cơ chế xác định chi phí tư vấn đầu tư xây dựng.

TS. LÊ VĂN CƯ & ThS. HOÀNG XUÂN HIỆP
VIỆN KINH TẾ XÂY DỰNG, BỘ XÂY DỰNG

Trong lĩnh vực đầu tư xây dựng công trình, hoạt động tư vấn đầu tư xây dựng có vai trò hết sức quan trọng và là bộ phận không thể tách rời. Chất lượng của hoạt động tư vấn đầu tư xây dựng ảnh hưởng đến kỹ, mỹ thuật, tiến độ, chất lượng và hiệu quả của công trình. Để nâng cao chất lượng của hoạt động tư vấn đòi hỏi chi phí tư vấn cũng cần phải có những đổi mới. Một trong những đổi mới cần phải hướng tới là sự thay đổi về cách thức tiếp cận và cơ chế xác định chi phí tư vấn phù hợp với yêu cầu quản lý hoạt động tư vấn và quy định của pháp luật hiện hành. Bài viết này trình bày một số thay đổi của cơ chế xác định chi phí tư vấn đầu tư xây dựng theo hướng dẫn mới của Bộ Xây dựng.

1. Các yếu tố ảnh hướng đến chi phí tư vấn đầu tư xây dựng
Hoạt động tư vấn đầu tư xây dựng là công việc đòi hỏi người thực hiện (chuyên gia tư vấn) phải có trình độ, kỹ năng, có tính chuyên nghiệp, luôn cập nhật với trình độ phát triển của thế giới (nhất là đối với công tác thiết kế) để đáp ứng đầy đủ các yêu cầu khách hàng đồng thời phải tuân thủ theo đúng với các quy định của pháp luật liên quan. Chi phí của hoạt động tư vấn đầu tư xây dựng chịu sự tác động của một số yếu tố:
- Các yếu tố có liên quan đến đặc điểm, điều kiện cụ thể của công trình:
+ Loại, cấp, quy mô và mức độ phức tạp của công trình là yếu tố rất quan trọng có ảnh hưởng quyết định đến chi phí cần bỏ ra để thực hiện các công việc tư vấn. Với cùng một loại công trình, nếu công trình quy mô lớn, yêu cầu phức tạp sẽ cần chuyên gia tư vấn có trình độ cao, giầu kinh nghiệm hơn so chuyên gia tư vấn của công trình quy mô nhỏ, yêu cầu kỹ thuật đơn giản.
+ Các yếu tố về điều kiện tự nhiên, điều kiện địa chất thủy văn, điều kiện kinh tế xã hội ở nơi đầu tư xây dựng công trình có ảnh hưởng đến các hao phí để hình thành sản phẩm của hoạt động tư vấn. Hay nói cách khác, hoạt động tư vấn có thể thích hợp đối với một thực thể cụ thể, trong một bối cảnh, tình huống và thời gian nhất định nhưng có thể lại không thích hợp cho một thực thể khác, hoàn cảnh cũng như thời gian khác.
+ Yêu cầu về tiến độ thực hiện cũng là nhân tố tác động lớn đến chi phí thực hiện công việc tư vấn. Khi công trình có yêu cầu thời gian thực công việc tư vấn nhanh, khẩn trương thì hao phí cho công tác tư vấn cũng sẽ đòi hỏi có sự khác biệt so với yêu cầu tiến độ thông thường.
- Các yếu tố thuộc về về trình độ chuyên môn của chuyên gia tư vấn. Do yêu cầu phức tạp của công việc, các chuyên gia tư vấn thường có trình độ từ đại học trở lên và phải tham gia các lớp đào tạo để được cấp chứng chỉ hành nghề (quản lý dự án, giám sát, kỹ sư định giá) phù hợp với công việc tư vấn thực hiện. Do vậy, khi xác định chi phí tư vấn cần lưu ý chi phí tiền lương của chuyên gia tư vấn khác với tiền lương của lao động phổ thông thông thường. Ngoài ra, kinh nghiệm của chuyên gia tư vấn cũng là vấn đề quan trọng. Kinh nghiệm được coi như một trong những yếu tố ảnh hưởng đến các kỹ năng của chuyên gia khi đưa ra các lời khuyên hữu ích cho chủ đầu tư. Thông thường chuyên gia tư vấn có thời gian làm việc càng lâu thì mức tiền lương càng cao.
- Các yếu tố thuộc về môi trường, điều kiện làm việc của doanh nghiệp tư vấn. Môi trường, điều kiện làm việc của từng doanh nghiệp tư vấn có ảnh hưởng nhất định đến chi phí tư vấn. Nếu doanh nghiệp đầu tư trụ sở, máy móc thiết bị hiện đại thì các chi phí này sẽ được phân bổ nhiều vào sản phẩm, chi phí tư vấn sẽ tăng cao. Tuy nhiên nếu các công ty không đầu tư thì lại không bắt kịp sự phát triển của ngành nghề, không cập nhật được các tiến bộ trong công tác tư vấn. Do vậy, việc đầu tư cho môi trường, điều kiện làm việc của các doanh nghiệp tư vấn sẽ khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu phát triển của từng doanh nghiệp cụ thể.
- Các yếu tố thuộc về môi trường xã hội. Tư vấn đầu tư xây dựng công trình đòi hỏi chuyên gia phải có “chất xám” nhưng đồng thời cũng là một nghề trong xã hội. Do vậy, cũng cần phải được đặt trong thực trạng chung trên cơ sở các yếu tố: Đặc thù của ngành nghề, tình hình cung cấp lao động (chuyên gia) trên thị trường, mức thu nhập bình quân của xã hội, mặt bằng giá sinh hoạt... Các yếu tố này là các tổng hòa không tách rời khi xác định chi phí tư vấn đầu tư xây dựng.
2. Sự cần thiết phải thay đổi cơ chế xác định chi phí tư vấn đầu tư xây dựng
Cơ chế xác định chi phí tư vấn theo định mức chi phí tư vấn công bố tại Quyết định số 957/QĐ-BXD ngày 29/09/2009 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng (Quyết định 957/QĐ-BXD) và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan được đánh giá là tương đối thuận lợi, phù hợp với yêu cầu quản lý hoạt động tư vấn đầu tư xây dựng trong giai đoạn vừa qua. Tuy nhiên đến nay, cơ chế xác định này cũng đã bộc lộ một số tồn tại, bất cập đòi hỏi cần phải khắc phục. Việc xác định chi phí tư vấn trong tổng mức đầu tư hoặc trong dự toán trên cơ sở sử dụng định mức chi phí theo tỷ lệ phần trăm (%) của chi phí xây dựng, chi phí thiết bị trong tổng mức đầu tư được duyệt hoặc chi phí xây dựng trong dự toán được duyệt là chưa hợp lý (sử dụng dữ liệu của bước sau để dự tính chi phí ở thời điểm hiện tại). Cơ chế xác định này đã dẫn đến việc vận dụng không phù hợp khi xác định gía của một số loại hợp đồng tư vấn; đồng thời tạo ra sự thiếu nhất quán đối với hoạt động thanh toán, kiểm soát chi phí tư vấn. Mặt khác, cơ chế xác định chi phí thiết kế theo định mức tỉ lệ % của chi phí xây dựng trong dự toán được duyệt được cho đã tạo kẽ hở để nhà thầu tư vấn thiết kế cố tình “đẩy” chi phí xây dựng của công trình thông qua việc không lựa chọn phương án sử dụng vật tư, thiết bị của công trình tối ưu về mặt chi phí để nhằm “đẩy” chi phí thiết kế lên theo. Hay nói cách khác, cơ chế xác định chi phí thiết kế nêu trên đã gây ra hiện tượng lãng phí trong đầu tư xây dựng công trình. Ngoài ra, do thiếu hướng dẫn cách xác định chi phí tư vấn hình thành trong các quá trình đầu tư xây dựng (chi phí trong dự toán giai đoạn chuẩn bị đầu tư, tổng mức đầu tư, dự toán công trình, dự toán gói thầu tư vấn) nên đã gây ra một số khó khăn khi xác định định chi phí của dự án. Do thiếu chế tài để kiểm soát chi phí thuê tư vấn nước ngoài, nhất là đối với các dự án sử dụng nguồn vốn của nhà nước nên đã gây ra hiện tượng “đắt đỏ” khi thuê tư vấn nước ngoài, tạo ra sự bất bình đẳng với đội ngũ tư vấn trong nước. Trị số định mức chi phí tư vấn theo công bố tại Quyết định 957/QĐ-BXD đến thời điểm hiện tại đã chưa theo kịp tốc độ trượt giá và những yếu tố khách quan tác động đến giá dịch vụ tư vấn.
Các bất cập trên đòi hỏi phải có những giải pháp khắc phục để đảm bảo cơ chế xác định chi phí tư vấn phù hợp với cơ chế quản lý chi phí đầu tư xây dựng hiện hành, góp phần chống lãng phí, thất thoát.
3. Đổi mới cơ chế xác định chi phí tư vấn đầu tư xây dựng
Để khắc phục những bất cập trên, Bộ Xây dựng đã công bố định mức chi phí tư vấn tại Quyết định số 79/QĐ-BXD ngày 15/02/2017 (Quyết định số 79/QĐ-BXD) để thay thế Quyết định số 957/QĐ-BXD. Cơ chế xác định chi phí tư vấn theo hướng dẫn tại Quyết định số 79/QĐ-BXD là cơ sở để xác định chi phí các công việc tư vấn trong tổng mức đầu tư xây dựng, dự toán xây dựng và để xác định giá gói thầu tư vấn phù hợp với trình tự đầu tư xây dựng, pháp luật về đấu thầu trong hoạt động xây dựng. Theo đó, cơ chế xác định chi phí tư vấn đã được chuyển từ phương thức xác định “sau” (theo dữ liệu chi phí được duyệt) sang phương thức xác định “trước” (sử dụng dữ liệu chi phí dự tính trước, dữ liệu chi phí của bước trước) phù hợp với mục tiêu xác định chi phí “đầu vào” của quá trình quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình. Mỗi giai đoạn của quá trình đầu tư xây dựng, chi phí tư vấn sẽ được chuẩn xác dần theo quan điểm kiểm soát và quản lý chi phí; cụ thể:
- Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, sử dụng dữ liệu ước tính (suất vốn đầu tư hoặc dữ liệu chi phí của các dự án có tính chất, quy mô tương tự đã hoặc đang thực hiện) để xác định chi phí lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi. Sử dụng dữ liệu trong sơ bộ tổng mức đầu tư của báo cáo nghiên cứu tiền khả thi được duyệt hoặc ước tính theo suất vốn đầu tư, dữ liệu chi phí của các dự án có tính chất, quy mô tương tự đã hoặc đang thực hiện (trong trường hợp dự án không phải lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi) để xác định chi phí lập báo cáo nghiên cứu khả thi, lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật, chi phí thẩm tra báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, khả thi.
- Trong giai đoạn thực hiện dự án, sử dụng dữ liệu chi phí xây dựng, chi phí thiết bị công trình trong tổng mức đầu tư được duyệt, giá gói thầu trong kế hoạch đấu thầu được duyệt hoặc giá trị hợp đồng tư vấn đã ký kết để xác định chi phí thiết kế, thẩm tra thiết kế, dự toán, lựa chọn nhà thầu, giám sát thi công, giám sát khảo sát trong dự toán công trình.
- Trong giai đoạn kết thúc dự án, sử dụng dữ liệu chi phí trong tổng mức đầu tư được duyệt để xác định chi phí quy đổi vốn đầu tư xây dựng.
- Chi phí thuê tư vấn nước xác định không vượt quá “mức trần” chi phí để thuê cá nhân, tổ chức tư vấn nước ngoài thực hiện công việc quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, vốn nhà nước ngoài ngân sách, các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư PPP.
Cơ chế xác định chi phí tư vấn theo hướng dẫn tại Quyết định số 79/QĐ-BXD trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện dự án được tổng hợp theo sơ đồ sau:



Cơ chế xác định chi phí tư vấn theo hướng dẫn tại Quyết định số 79/QĐ-BXD cơ bản đã khắc phục một số bất cập của cơ chế xác định trước đây. Theo đó, các chỉ tiêu như suất vốn đầu tư, dữ liệu chi phí của các dự án, công trình tương tự đã thực hiện là những chỉ tiêu chủ yếu sử dụng để xác định chi phí tư vấn. Mặt khác, chi phí xây dựng, chi phí thiết bị của tổng mức đầu tư được duyệt, giá gói thầu được duyệt có vai trò rất quan trọng trong việc xác định chi phí tư vấn của công trình. Chi phí tư vấn được xác định đã đáp ứng mục tiêu là chi phí “đầu vào” trong quá trình quản lý chi phí đầu tư xây dựng, không sử dụng để thanh toán hợp đồng và đã khắc phục được hiện tượng “đẩy giá thành công trình xây dựng” để tính chi phí thiết kế theo tỷ lệ % do đối tượng xác định chi phí thiết kế là chi phí xây dựng trong tổng mức đầu tư được duyệt với bối cảnh tổng mức đầu tư dự án chịu sự ràng buộc của kế hoạch đầu tư công (đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước). Cơ chế xác định này đòi hỏi nhà thầu tư vấn phải có đủ nguồn thông tin dữ liệu, khả năng về chuyên môn để xác định các chi phí của dự án.
4. Kết luận
Việc đổi mới cơ chế xác định chi phí tư vấn đầu tư xây dựng là cần thiết để đáp ứng yêu cầu quản lý chi phí trong bối cảnh của cơ chế quản lý đầu tư xây dựng có nhiều thay đổi theo quy định của Luật Xây dựng năm 2014 và yêu cầu thực tiễn đặt ra. Cơ chế xác định chi phí tư vấn theo hướng dẫn mới hy vọng sẽ đáp ứng yêu cầu quản lý tiết kiệm, hiệu quả trong hoạt động đầu tư xây dựng.

01/08/2016

Chi phí dự phòng trong hợp đồng trọn gói là dự phòng cho KLPS trong phạm vi công việc phải thực hiện theo thiết kế và dự phòng cho yếu tố trượt giá.

Câu hỏi của bạn Đỗ Thương tại hòm thư [email protected] hỏi :
Khoản 1, Điều 13, Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng quy định: "Nội dung dự toán gói thầu thi công xây dựng gồm chi phí xây dựng, chi phí hạng mục chung và chi phí dự phòng".

Khoản 4, Điều 13 Nghị định 32/2015/NĐ-CP quy định: "Chi phí dự phòng trong dự toán gói thầu thi công xây dựng được xác định theo tỷ lệ % của các chi phí đã xác định trong dự toán gói thầu và thời gian thực hiện gói thầu nhưng không vượt mức tỷ lệ phần trăm (%) chi phí dự phòng của dự toán xây dựng công trình đã được phê duyệt".

Tôi xin hỏi, nếu trong dự toán xây dựng công trình đã duyệt với tỷ lệ dự phòng là 5% thì tỷ lệ dự phòng trong dự toán gói thầu thi công xây dựng lấy bao nhiêu %? Có cần tính toán hay là lấy giá trị bất kỳ, miễn sao không vượt 5%?

Thành phần dự phòng trong dự toán gói thầu thi công xây dựng có phải gồm 2 yếu tố là dự phòng cho khối lượng phát sinh và dự phòng cho yếu tố trượt giá như trong chi phí dự phòng dự toán xây dựng công trình không?

Nếu dự phòng trong dự toán gói thầu thi công xây dựng gồm 2 yếu tố là dự phòng cho khối lượng phát sinh và trượt giá thì trường hợp gói thầu quy mô nhỏ phải áp dụng hình thức hợp đồng trọn gói thì dự phòng cho khối lượng phát sinh này là phát sinh trong hay ngoài thiết kế?

Sau khi nghiên cứu, Vụ Kinh tế xây dựng trả lời như sau:

Việc xác định chi phí dự phòng trong dự toán gói thầu được quy định tại Điều 13 Nghị định 32/2015/NĐ-CP “Chi phí dự phòng trong dự toán gói thầu thi công xây dựng được xác định theo tỷ lệ % của các chi phí đã xác định trong dự toán gói thầu và thời gian thực hiện gói thầu nhưng không vượt mức tỷ lệ phần trăm chi phí dự phòng của dự toán xây dựng công trình đã được phê duyệt”. Do đó đối với trường hợp của quý đơn vị, tỷ lệ % chi phí dự phòng trong dự toán gói thầu cần được tính toán xây dựng một cách phù hợp, đảm bảo hiệu quả và không được vượt tỷ lệ chi phí dự phòng của dự toán xây dựng công trình đã được phê duyệt.

Chi phí dự phòng trong hợp đồng trọn gói bao gồm 2 yếu tố là dự phòng cho khối lượng phát sinh trong phạm vi công việc phải thực hiện theo thiết kế và dự phòng cho yếu tố trượt giá.

28/07/2016

Hồ sơ mời thầu (HSMT) quy định giá trị bảo lãnh dự thầu lớn hơn hoặc bằng 1% tổng giá trị sản phẩm dự thầu. Tổng giá trị sản phẩm dự thầu của nhà thầu là 3.456.432.500 đồng. Bảo lãnh dự thầu của nhà thầu trong hồ sơ dự thầu là 34.564.000 đồng. Tôi xin hỏi, giá trị bảo lãnh dự thầu của nhà thầu như nêu trên có được đánh giá là đạt hay không?

25/07/2016

Tiêu đề: Hỏi đáp về Luật Đấu thầu. Chủ đề: Đánh giá kinh nghiệm thực hiện hợp đồng xây lắp.

Hỏi:
Việc đánh giá kinh nghiệm của nhà thầu tham dự thầu gói thầu xây lắp theo Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT ngày 06/5/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư có gì khác biệt so với quy định trước đó và cách đánh giá hợp đồng tương tự đối với nhà thầu tham dự thầu với tư cách độc lập có gì khác so với nhà thầu liên danh? Đề nghị cho ví dụ cụ thể.


Trả lời:
Khoản 1 Điều 15 của Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (NĐ63) quy định: Việc đánh giá hồ sơ dự thầu (HSDT) phải căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá HSDT và các yêu cầu khác trong hồ sơ mời thầu (HSMT), căn cứ vào HSDT đã nộp, các tài liệu giải thích, làm rõ HSDT của nhà thầu để bảo đảm lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm, có giải pháp khả thi để thực hiện gói thầu.

Tại Điều 18 của NĐ63 quy định về đánh giá HSDT đối với gói thầu áp dụng phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ, trong đó có quy định về các bước đánh giá HSDT: (1) Kiểm tra tính hợp lệ của HSDT; (2) Đánh giá tính hợp lệ của HSDT; (3) Đánh giá về năng lực và kinh nghiệm; (4) Đánh giá về kỹ thuật và giá; (5) Xếp hạng nhà thầu.
Theo trình tự các bước đánh giá HSDT, về nguyên tắc, nhà thầu được đánh giá đáp ứng tại Bước (3) thì mới được chuyển sang đánh giá tại Bước (4). Do đó, để tránh trường hợp nhà thầu sơ xuất khi chuẩn bị HSDT dẫn đến bị loại một cách đáng tiếc, tại Điều 16 của NĐ63 cũng đã quy định mở hơn so với Nghị định số 85/2009/NĐ-CP theo hướng: (i) sau khi đóng thầu, nếu nhà thầu phát hiện HSDT thiếu các tài liệu chứng minh năng lực và kinh nghiệm thì được phép gửi bổ sung tài liệu đến bên mời thầu để làm rõ về năng lực và kinh nghiệm của mình; (ii) sau khi mở thầu, trường hợp HSDT của nhà thầu thiếu tài liệu chứng minh năng lực, kinh nghiệm thì bên mời thầu yêu cầu nhà thầu làm rõ, bổ sung tài liệu để chứng minh năng lực và kinh nghiệm. Tuy nhiên, việc làm rõ HSDT đều phải đảm bảo nguyên tắc không làm thay đổi bản chất của nhà thầu tham dự thầu.
Đề cập đến tiêu chuẩn cụ thể cũng như hướng dẫn về cách đánh giá kinh nghiệm của nhà thầu độc lập/liên danh tham dự thầu gói thầu xây lắp, mẫu HSMT xây lắp ban hành kèm theo Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT đã hướng dẫn tương đối rõ (Điểm 4 Khoản 2.1 Mục 2 Chương III). So với hướng dẫn nêu trong các mẫu HSMT trước đây, trong mẫu HSMT xây lắp ban hành kèm theo TT03 không yêu cầu nhà thầu phải có ‘‘kinh nghiệm chung về thi công xây dựng”, mà chỉ yêu cầu nhà thầu phải đáp ứng tiêu chí ‘‘kinh nghiệm cụ thể trong quản lý và thực hiện hợp đồng xây lắp”.
Cụ thể, HSMT phải nêu rõ số lượng tối thiểu các hợp đồng tương tự mà nhà thầu đã hoàn thành toàn bộ hoặc hoàn thành phần lớn với tư cách là nhà thầu chính (độc lập hoặc thành viên liên danh) hoặc nhà thầu phụ trong vòng một số năm nhất định để được đánh giá đạt về kinh nghiệm thực hiện gói thầu đang xét. Trong đó, khái niệm về hợp đồng tương tự được hướng dẫn theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà thầu mới thành lập nhưng có năng lực, kinh nghiệm tốt. Theo đó, tại ghi chú số 10 của Khoản 2.1 nêu trên hướng dẫn rõ: Hợp đồng tương tự là hợp đồng đã thực hiện toàn bộ, trong đó công việc xây lắp có các tính chất tương tự với gói thầu đang xét, bao gồm: tương tự về bản chất và độ phức tạp; tương tự về quy mô công việc. “Tương tự về quy mô công việc” được hiểu là “có giá trị công việc xây lắp bằng hoặc lớn hơn 70% giá trị công việc xây lắp của gói thầu đang xét”. Đối với các công việc đặc thù hoặc ở các địa phương mà năng lực của nhà thầu trên địa bàn còn hạn chế, có thể yêu cầu giá trị phần công việc xây lắp của hợp đồng trong khoảng 50% - 70% giá trị phần công việc xây lắp của gói thầu đang xét, đồng thời vẫn phải yêu cầu nhà thầu bảo đảm có hợp đồng thi công tương tự về bản chất và độ phức tạp đối với hạng mục chính của gói thầu.
Trong thực tế thời gian qua, bản thân tổ chuyên gia, bên mời thầu và nhiều nhà thầu lúng túng trong cách tính hợp đồng xây lắp có quy mô tương tự theo hướng dẫn tại mẫu HSMT xây lắp mới. Hiểu một cách đơn giản thì nhà thầu được đánh giá là đáp ứng về kinh nghiệm thực hiện hợp đồng tương tự về quy mô khi thỏa mãn 1 trong 3 trường hợp sau, trong đó ví dụ số lượng hợp đồng tương tự theo yêu cầu của HSMT là N, mỗi hợp đồng có giá trị tối thiểu là V:
(1) Số lượng hợp đồng = N, mỗi hợp đồng có giá trị tối thiểu = V, như vậy tổng giá trị các hợp đồng tương tự là X = NxV;
(2) Số lượng hợp đồng ít hơn N, mỗi hợp đồng có giá trị tối thiểu = V và tổng giá trị tất cả hợp đồng tương tự >= X;
(3) Một hợp đồng có giá trị tối thiểu = V và tổng giá trị tất cả hợp đồng tương tự >= X.
Như vậy, theo hướng dẫn trên, trường hợp (1) rất thông dụng, dễ hiểu, dễ tính nhưng trong thực tế chưa tạo thuận lợi cho nhà thầu mới, đối với hai trường hợp còn lại được hiểu là nếu trong HSMT yêu cầu nhà thầu đã thực hiện từ hai hợp đồng tương tự trở lên thì nhà thầu phải đáp ứng tối thiểu một hợp đồng với quy mô, tính chất tương tự gói thầu đang xét; quy mô của các hợp đồng tương tự tiếp theo được xác định bằng cách cộng các hợp đồng có quy mô nhỏ hơn nhưng phải bảo đảm các hợp đồng đó có tính chất tương tự với các hạng mục cơ bản của gói thầu đang xét.
Ví dụ đối với một gói thầu xây lắp, trong HSMT yêu cầu nhà thầu phải hoàn thành tối thiểu 3 hợp đồng xây lắp có tính chất kỹ thuật tương tự gói thầu đang xét, mỗi hợp đồng có giá trị tối thiểu 7 tỷ đồng thì nhà thầu (có tư cách độc lập) được đánh giá là đáp ứng yêu cầu về kinh nghiệm thực hiện hợp đồng tương tự nếu:
- Đã hoàn thành 1 hợp đồng có tính chất kỹ thuật tương tự với gói thầu đang xét, có giá trị tối thiểu 21 tỷ đồng.
- Đã hoàn thành nhiều hơn 1 hợp đồng có tính chất kỹ thuật tương tự với gói thầu đang xét, trong đó ít nhất 1 hợp đồng có giá trị tối thiểu là 7 tỷ đồng và tổng giá trị các công trình tương tự không thấp hơn 21 tỷ đồng.
Đối với nhà thầu liên danh, việc đánh giá năng lực, kinh nghiệm của thành viên trong liên danh phải căn cứ vào phần công việc mà thành viên đó đảm nhận. Với ví dụ nêu trên trong trường hợp nhà thầu với tư cách là liên danh gồm 2 thành viên, mỗi thành viên đảm nhận thực hiện 50% giá trị gói thầu thì từng thành viên liên danh được đánh giá là đáp ứng yêu cầu về kinh nghiệm thực hiện hợp đồng tượng tự nếu:
- Từng thành viên trong liên danh đã hoàn thành 1 hợp đồng có tính chất kỹ thuật tương tự với gói thầu đang xét, có giá trị tối thiểu là 10,5 tỷ đồng.
- Từng thành viên trong liên danh thực hiện nhiều hơn 1 hợp đồng có tính chất kỹ thuật tương tự với gói thầu, trong đó ít nhất có 1 hợp đồng có giá trị tối thiểu là 3,5 tỷ đồng và tổng giá trị các công trình tương tự của mỗi thành viên không thấp hơn 10,5 tỷ đồng.
Nếu bất kỳ thành viên nào trong liên danh không đáp ứng về năng lực, kinh nghiệm thì nhà thầu liên danh được đánh giá là không đáp ứng yêu cầu.
(Từ nguồn tin Báo Đấu thầu- Bộ Kế hoạch và Đầu tư số 213 ngày 09/11/2014).

Đơn dự thầu ghi sai tên gói thầu thì có hợp lệ?Chinhphu.vn) - Theo hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đơn dự thầu ghi ...
24/07/2016

Đơn dự thầu ghi sai tên gói thầu thì có hợp lệ?

Chinhphu.vn) - Theo hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đơn dự thầu ghi sai tên gói thầu nhưng các nội dung khác của hồ sơ dự thầu ghi đúng tên gói thầu thì hồ sơ dự thầu vẫn được xem xét tiếp.

Theo phản ánh của ông Hoàng Vũ Tưởng (TP. Hồ Chí Minh), trong quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu (HSDT) của nhà thầu, tổ chuyên gia gặp tình huống đấu thầu và xử lý như sau:

- Nhà thầu ghi trong đơn dự thầu theo mẫu trong Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT đúng tên gói thầu trên phần tiêu đề. Nhưng trong nội dung đơn dự thầu ghi sai tên gói thầu, bảng tổng hợp giá thầu ghi đúng tên gói thầu. Tổ chuyên gia cho nhà thầu xác nhận lại tên gói thầu trong nội dung đơn và chấp nhận đơn dự thầu hợp lệ.

- Giá dự thầu phần bằng chữ bị sai so với giá ghi bằng số trong đơn dự thầu nhưng giá dự thầu trong bảng tổng hợp đúng cả phần bằng số và bằng chữ. Tình huống này được coi như giá trong đơn dự thầu không khớp giá trong bảng giá tổng hợp, Tổ chuyên gia lấy giá trị trong bảng giá tổng hợp để sửa lỗi hiệu chỉnh và đánh giá, đơn dự thầu vẫn đánh giá hợp lệ.

- Nhà thầu ghi hiệu lực của HSDT từ 10 giờ 00 (giờ mở thầu) trong khi giờ đóng thầu là 9 giờ 00. Tổ chuyên gia đánh HSDT hợp lệ do thời điểm đóng thầu theo Điều 4Luật Đấu thầu tính theo ngày có thời điểm đóng thầu nên nhà thầu bị sai giờ, đúng ngày vẫn hợp lệ.

Ông Tưởng đề nghị cơ quan chức năng hướng dẫn về cách xử lý tình huống của Tổ chuyên gia nêu trên có đúng theo quy định Luật Đấu thầu không?

Về vấn đề này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến như sau:

Khoản 2, Điều 18 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP quy định HSDT hợp lệ phải có đơn dự thầu được đại diện hợp pháp của nhà thầu ký tên, đóng dấu (nếu có) theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu (HSMT); giá dự thầu ghi trong đơn dự thầu phải cụ thể, cố định bằng số, bằng chữ và phải phù hợp, logic với tổng giá dự thầu ghi trong biểu giá tổng hợp.

Đối với trường hợp của ông Hoàng Vũ Tưởng, đơn dự thầu ghi sai tên gói thầu nhưng các nội dung khác của HSDT ghi đúng tên gói thầu thì HSDT vẫn được xem xét tiếp.

Liên quan đến giá dự thầu, trường hợp phần giá trị ghi bằng chữ trong đơn dự thầu viết sai so với nội dung bằng số và nội dung bằng số phù hợp với giá dự thầu ghi trong biểu giá tổng hợp thì HSDT vẫn được xem xét tiếp.

Về hiệu lực của HSDT, theo quy định tại khoản 42, Điều 4 Luật Đấu thầu, thời gian có hiệu lực của HSDT là số ngày được quy định trong HSMT và được tính kể từ ngày có thời điểm đóng thầu đến ngày cuối cùng có hiệu lực theo quy định trong HSMT. Từ thời điểm đóng thầu đến hết 24 giờ của ngày đóng thầu được tính là 1 ngày.

Theo đó, nếu HSMT quy định HSDT phải có hiệu lực từ thời điểm đóng thầu (9 giờ) thì HSDT quy định hiệu lực HSDT từ thời điểm mở thầu (10 giờ) bị đánh giá là không đáp ứng yêu cầu của HSMT đối với nội dung này.

Chinhphu.vn

Chinhphu.vn) - Theo hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đơn dự thầu ghi sai tên gói thầu nhưng các nội dung khác của hồ sơ dự thầu ghi đúng tên gói thầu thì hồ sơ dự thầu vẫn được xem xét tiếp.

19/07/2016

LẠI 1 BÀI VỞ DỰNG SẴN
1 gói thầu có 4 nhà thầu nộp hồ sơ.
Trong hồ sơ yêu cầu nộp báo cáo tài chính và đính kèm xác nhận của Tổng cục thuế về việc đã nộp tờ khai qua mạng. Nhưng hồ sơ có nộp báo cáo tài chính mà không đính kèm tờ xác nhận Tổng cục thuế về việc đã nộp tờ khai qua mạng. Khi yêu cầu làm rõ hồ sơ dự thầu bên mời thầu không yêu cầu làm rõ nội dung này mà dùng nội dung này để đánh rớt hồ sơ dự thầu.

Cho em hỏi bên mời thầu làm như vậy có đúng luật không ạ?

=> bắt buộc phải làm rõ phần năng lực tài chính bctc này trước khi loại nhà thầu

Anh em phân tích nguyên nhân?
16/07/2016

Anh em phân tích nguyên nhân?

14/07/2016

Câu hỏi của bạn Nguyễn Tiến Thắng tại hòm thư [email protected] hỏi :

Tại khoản 7, Điều 67 Luật Đấu thầu về nguyên tắc điều chỉnh hợp đồng có quy định “Trường hợp điều chỉnh tiến độ hợp đồng mà không làm kéo dài tiến độ hoàn thành dự án thì các bên tham gia hợp đồng thỏa thuận, thống nhất việc điều chỉnh. Trường hợp điều chỉnh tiến độ thực hiện hợp đồng làm kéo dài tiến độ hoàn thành dự án thì phải báo cáo người có thẩm quyền xem xét, quyết định”.

Theo khoản 3, Điều 39 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng “Khi điều chỉnh tiến độ hợp đồng không làm kéo dài tiến độ thực hiện hợp đồng (bao gồm cả thời gian được kéo dài tiến độ thực hiện hợp đồng theo quy định của hợp đồng xây dựng) thì chủ đầu tư và nhà thầu thỏa thuận, thống nhất việc điều chỉnh. Trường hợp điều chỉnh tiến độ làm kéo dài tiến độ thực hiện hợp đồng thì chủ đầu tư phải báo cáo người có thẩm quyền quyết định đầu tư xem xét, quyết định”.

Tôi xin hỏi, khi điều chỉnh tiến độ hợp đồng làm kéo dài tiến độ thực hiện hợp đồng nhưng không làm kéo dài tiến độ hoàn thành dự án thì chủ đầu tư và nhà thầu có được thỏa thuận, thống nhất việc điều chỉnh không?

Address

Xã Hưng Lĩnh, Huyện Hưng Nguyên
Hanoi

Opening Hours

Monday 08:00 - 17:00
Tuesday 08:00 - 17:00
Wednesday 08:00 - 17:00
Thursday 08:00 - 17:00
Friday 08:00 - 17:00
Saturday 08:00 - 17:00
Sunday 08:00 - 17:00

Telephone

0912867137

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Công ty Cổ phần Xây dựng NAGROUP posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Công ty Cổ phần Xây dựng NAGROUP:

Share