Trung tâm Khoa học và Đổi mới Sáng tạo

Trung tâm Khoa học và Đổi mới Sáng tạo Trung tâm Khoa học và Đổi mới Sáng tạo (CSI)

20/06/2026
KÍNH THƯA CÁC QUÝ BÀ CON, ANH CHỊ EM BẰNG HỮU HIỆN CANH TÁC NÔNG NGHIỆP CÙNG CÁC BÊN LIÊN QUAN TRONG CHUỖI CUNG ỨNG NÔNG...
13/06/2026

KÍNH THƯA CÁC QUÝ BÀ CON, ANH CHỊ EM BẰNG HỮU HIỆN CANH TÁC NÔNG NGHIỆP CÙNG CÁC BÊN LIÊN QUAN TRONG CHUỖI CUNG ỨNG NÔNG SẢN.

TÙNG TỔNG HỢP VÀ VIẾT CHUỖI BÀI LIÊN QUAN ĐẾN CADIMI (CD) NÀY XUẤT PHÁT TỪ MỘT CÁI TÂM RẤT LỚN ĐỐI VỚI NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ MONG MUỐN TẤT CẢ CÁC BÊN CÙNG NHAU HIỂU MỘT CÁCH SÂU SẮC ĐỂ CHUNG TAY LÀM THAY ĐỔI NHỮNG GÌ ĐANG DIỄN RA VỚI ƯỚC NGUYỆN RẰNG TƯƠNG LAI NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM RẠNG RỠ XỨNG ĐÁNG VỚI VỊ THẾ LỊCH SỬ LẪN TRUYỀN THỐNG VỐN CÓ.

ĐÔI KHI CHỈ CẦN 1 SỰ THAY ĐỔI BÉ NHỎ HÔM NAY CÓ THỂ TÁC ĐỘNG TÍCH CỰ ĐỐI VỚI CHO TƯƠNG LAI (That's one small step for a man, one giant leap for mankind” Neil Amstrong.

CHƯƠNG I: NGUYÊN NHÂN VÀ NGUỒN GỐC CỦA NGUYÊN TỐ HOÁ HỌC CADMIUM (CD)

Miền Tây Nam Bộ, đặc biệt các vùng chuyển đổi từ lúa sang cây ăn trái trong đó bao gồm sầu riêng, vốn có lịch sử lẫn thói quen canh tác liên quan “đất / nước / vùng trồng” rất khác Đông Nam Bộ hay Tây Nguyên. Việc xuất hiện Cd (Cadimi), As (Arsen), Pb (Chì) không phải do một nguyên nhân đơn lẻ, mà là kết quả của đa nguyên cấu thành bởi nền địa chất tự nhiên + thủy văn đồng bằng + nhiều thập kỷ thâm canh lúa + thói quen sử dụng vật tư nông nghiệp đầu vào + chuyển đổi cây lâu năm thiếu đánh giá nền tảng môi trường.

1. Nguồn gốc tự nhiên: miền Tây vốn có rủi ro As trong nước ngầm và trầm tích

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng trầm tích trẻ, có nhiều lớp bùn sét, hữu cơ, phèn – phù sa cổ. Trong điều kiện yếm khí, một số tầng nước ngầm có thể giải phóng Asen (As) vào nước. Nghiên cứu về nước ngầm Mekong Delta cho thấy As trong nước ngầm là vấn đề đã được ghi nhận lâu năm; một số nguồn mô tả hơn một triệu giếng ở Việt Nam có nồng độ As cao hơn tiêu chuẩn sức khỏe nhiều lần.

Vì vậy, với miền Tây, As thường có yếu tố địa chất – thủy văn tự nhiên mạnh hơn Cd và Pb. Khi nông dân dùng nước giếng khoan lâu năm để tưới cây ăn trái, đặc biệt mùa khô, As có thể đi vào đất qua nước tưới. Nước mặt cũng có nguy cơ riêng nếu thượng nguồn hoặc kênh rạch chịu ảnh hưởng công nghiệp, khai khoáng, nước thải, hoặc bùn lắng ô nhiễm; gần đây, khu vực Mekong rộng hơn cũng được cảnh báo về nguy cơ kim loại nặng từ hoạt động khai khoáng thượng nguồn, gồm As, Hg, Pb, Cd.

Mặt khác, về mặt địa lý miền Tây Nam Bộ nằm ở cuối lưu vực sông Mekong bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng (Trung Quốc) đi qua khá nhiều quốc gia như: Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia rồi mới đến Việt Nam. Do đó việc khai thác vàng, các loại khoáng sản khác ở các quốc gia thượng nguồn cũng góp phần đẩy các hàm lượng kim loại nặng (thạch tín, thuỷ ngân, chì) có độc tính xuống hạ nguồn làm tích luỹ thêm sự ô nhiễm cho nguồn nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, hệ sinh thái thuỷ sản. Ngoài ra góp phần làm suy giảm phù sa và đất đai màu mỡ (phù sa mịn ở đồng bằng châu thổ) với lý do khai thác cát vàng ở lòng sông thượng nguồn. Điều này dẫn đến sạt lỡ mất cân bằng trầm tích, người miền Tây chỉ có thể bồi đắp bùn từ mương nước mỗi năm lên gò đất nhỏ bé có lượng sét cao và pH cực kỳ thấp (đất thiếu độ mùn tơi xốp, lẫn hữu cơ làm pH luôn duy trì độ phèn cao). Đồng thời việc khai thác điện năng từ các đập thuỷ điện ở thượng nguồn làm cho miền Tây Nam Bộ liên tục bị xâm nhập mặn dẫn đến sức đề kháng của cây trồng trong đất (sa mạc hoá) bị suy yếu. Khi bao tử (bồn đất dưới gốc cây) suy yếu và thiếu đi lợi khuẩn lẫn môi trường lý tưởng dẫn đến cây trồng liên tục bị nhiễm các loại bệnh cốt tử từ gốc. Và càng bệnh thì phải càng đổ thuốc để trị bệnh. Đây là 1 vòng lẩn quẩn giống như trị bệnh dựa trên triệu chứng chứ không phải nguyên nhân cốt lõi.

2. Lịch sử thâm canh lúa: nền đất bị “tích lũy âm thầm” qua nhiều vụ

Miền Tây vốn dĩ là vựa lúa lớn, nhiều nơi canh tác 2–3 vụ lúa/năm trong thời gian dài. Mô hình này tạo ra ba hệ quả:

Thứ nhất, đất bị giữ trong trạng thái ngập, yếm khí lặp đi lặp lại. Điều kiện ngập nước làm thay đổi trạng thái oxy hóa, khử của Fe, Mn, As và nhiều kim loại khác. Với lúa, ngập nước có thể giúp kiểm soát cỏ và thuận lợi sản xuất; nhưng trong quá trình canh tác lâu dài và liên tục, nó làm hệ đất quen với môi trường yếm khí, nhiều chất khử, dễ phát sinh độc tính kim loại nặng đồng thời thay đổi tính di động của As.

Thứ hai, đê bao khép kín dẫn đến giảm phù sa làm giảm khả năng tự làm mới đất. Các phân tích về suy thoái đất ĐBSCL chỉ ra những tác động như thâm canh 3 vụ lúa, mất lượng phù sa do đê bao, lạm dụng phân vô cơ, khai thác tầng đất mặt và biến đổi khí hậu đang làm suy giảm độ phì nhiêu, chua hóa, mất cân bằng dinh dưỡng và suy giảm vi sinh vật bản địa trong đất.

Thứ ba, thói quen sử dụng phân bón vô cơ – thuốc BVTV có cường độ cao trong nhiều vụ lúa làm tích lũy tạp chất. Mỗi vụ có thể dùng lân, DAP/NPK, thuốc cỏ, thuốc sâu, thuốc nấm; qua hàng chục năm, dù mỗi lần lượng tạp chất nhỏ, tổng tích lũy lại trở nên đáng kể. Nghiên cứu ở đất lúa An Giang nhấn mạnh tần suất canh tác lúa nhiều vụ làm tăng nguy cơ tích lũy kim loại nặng trong đất.

3. Cadimi (Cd): thường liên quan mật thiết đến phân lân và nguồn gốc phân bón đầu vào

Trong ba chất cần lưu ý như Arsen (As), Cadimi (Cd) và Chì (Pb) thì Cd hiện đang là vấn đề nóng nhất vì liên quan đến câu chuyện rào cản xuất khẩu sầu riêng, lý do Cd có khả năng đi vào cây/trái cao hơn Pb và thường liên quan đến phân lân có nguồn quặng phosphate có chứa tạp của Cd. Báo chí và cơ quan chuyên môn gần đây đều nhấn mạnh việc lạm dụng hoặc dùng phân bón, đặc biệt nhóm phân lân/DAP/MAP có tạp Cd, là nguyên nhân chính khiến Cd tích lũy trong đất và xuất hiện trong sầu riêng Việt Nam.

Trong lịch sử lúa, nông dân miền Tây vốn quen sử dụng:

* DAP, NPK, super lân/lân hỗn hợp để thúc đẻ nhánh, làm đòng;
* bón theo “kinh nghiệm vụ mùa” hơn là theo phân tích dữ liệu đất; không có thói quen kiểm nghiệm định kỳ về chất lượng đất và nước đầu vào.
* sẵn sàng tăng liều khi đất bạc màu hoặc khi năng suất giảm.

Cho đến khi chuyển đổi sang canh tác sầu riêng, thói quen này đôi khi tiếp tục: bón nền nhiều lân để “kích rễ”, bón DAP/MAP/MKP hoặc các loại phân lân không nguồn gốc rõ ràng (giả mạo), dùng phân thúc ra hoa/trái nhiều lần. Nếu nguồn phân có Cd, cây lâu năm như sầu riêng sẽ đứng trên một nền đất tích lũy Cd, rồi tiếp tục nhận Cd từ vật tư mới. Tức nghĩa một nền đất chưa kịp phân giải (nghĩ ngơi) hay có điều kiện tái tạo thì ngay lập tức bị bồi đắp hằng năm với liều lượng luôn tăng do mong muốn cây phát triển thì phải gia tăng năng suất nhiều hơn.

Điểm nguy hiểm vô cùng là Cd không hề phân hủy, tồn tại lâu trong đất; khi pH tụt thấp, hữu cơ nghèo và khi rễ hoạt động mạnh, Cd dễ di động hơn và đi vào cây.

Chính vì tính di động của Cd cao dễ thẩm thấu hơn các dòng kim loại khác, cho nên Cd chính là nguyên tố vô cùng nguy hiểm cho sức khoẻ con người vì dễ thẩm thấu qua thức ăn vào máu. Đối với các hạng mục chỉ tiêu luôn được quan tâm tuyệt đối căn cứ theo tiêu chuẩn Global GAP thì As / Cd / Pb chính là 3 nguyên tố kim loại nặng cơ bản buộc phải ưu tiên kiểm nghiệm trong Đất, Nước và Sản Phẩm.

4. Chì (Pb): thường đến từ môi trường, bùn thải, vật tư kém chất lượng và các loại vật tư nông nghiệp quá hạn sử dụng.

Pb thường ít di chuyển vào trái hơn Cd, nhưng tích lũy trong tầng đất mặt rất dai. Nguồn Pb có thể đến từ:

* bụi giao thông, khu công nghiệp, làng nghề, đốt rác;
* bùn từ kênh rạch, bùn ao chưa kiểm soát dùng để bồi đắp cho vườn cây;
* phân hữu cơ, phân chuồng, phân compost sản xuất từ nguồn nguyên liệu ô nhiễm;
* thuốc BVTV hoặc sản phẩm vật tư kém chất lượng có tạp chất kim loại;
* tồn dư lịch sử từ các hợp chất thuốc BVTV quá hạn.

Với miền Tây, một thói quen cần cảnh giác là lấy bùn mương/kênh rạch hoặc phù sa nội đồng bồi mô, đắp liếp mà không qua xét nghiệm các đặc tính chất lượng đầu vào. Nếu bùn đó nhận nước thải sinh hoạt, trại chăn nuôi, công nghiệp hoặc dòng chảy từ vùng dùng thuốc nhiều, nó có thể đưa Pb, As, Cd vào vườn cây lâu năm. Đó chưa kể đến các loại chủng vi khuẩn có hại từ nguồn rác thải hữu cơ.

5. Khi chuyển từ lúa sang sầu riêng, vì sao rủi ro tăng?

Về đặc tính khoa học đất thì đất lúa và đất sầu riêng vận hành khác nhau. Đất lúa chịu ngập, rễ lúa thích nghi với môi trường yếm khí. Nhưng sầu riêng là cây rừng nhiệt đới, rễ cần oxy cao, đất tơi xốp thoáng khí, cần thoát nước nhanh. Khi chuyển đổi, nhiều nơi chỉ lên liếp, đào mương, trồng cây mà chưa xử lý đầy đủ các vấn đề:

* phèn, pH thấp (đây là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất)
* tầng đất yếm khí lâu năm;
* Fe/Mn/As sẵn trong nước ngầm;
* tồn dư phân thuốc BVTV;
* vật chất hữu cơ và hệ vi sinh bản địa suy yếu;
* kim loại ở dạng di động cao.

Nếu lên mô bằng chính lớp đất/bùn từng tích lũy kim loại, sau đó bón thêm phân lân/phân hóa học mạnh, pH lại thấp, rễ sầu riêng có thể tiếp xúc với môi trường kim loại di động cao hơn. Đây là lý do nhiều vùng chuyển đổi cần HIỂU RÕ về đất – nước trước khi trồng.

6. Vai trò của pH: pH không tạo ra kim loại, nhưng chính là “CÁNH CỔNG BẢO VỆ” cho sức khoẻ đất và cây trồng. pH quyết định cho dư lượng kim loại có tính độc di cư từ đất vào cây hay không? Nhiều hay ít? Đối với trồng trọt thì pH phải là đối tượng quan tâm đầu tiên. Mặt khác pH là “công tắc” quyết định kim loại nặng nằm ở dạng khó tan hay dễ hấp thu.

* pH thấp dưới 5,0–5,5: Cd, Pb, nhiều dạng As dễ di động hơn; rễ hấp thu Cd mạnh hơn; độc Al/Fe/Mn cũng tăng.
* pH khoảng 5,5–6,5: phù hợp hơn cho sầu riêng, đồng thời giảm tính di động của nhiều kim loại, đặc biệt Cd và Pb.
* pH quá cao trên 7,0–7,5: một số kim loại giảm di động, nhưng vi lượng Fe, Zn, Mn dễ bị khóa, cây vàng đọt, rễ yếu.

Đất lúa miền Tây, đặc biệt đất phèn hoặc đất đã thâm canh lâu, thường dễ chua hóa. Khi chuyển sang sầu riêng, nếu không nâng pH có kiểm soát, bổ sung hữu cơ và cải tạo cấu trúc đất, rủi ro Cd/As/Pb sẽ là rất cao.

7. Ngưỡng an toàn sau kiểm nghiệm cần ghi nhớ

Với nước, các hướng dẫn quốc tế thường dùng ngưỡng tham chiếu:

* As: 0,01 mg/L
* Pb: 0,01 mg/L
* Cd: 0,003 mg/L

Với đất, Việt Nam có QCVN 03-MT:2015/BTNMT về giới hạn kim loại nặng trong đất; khi đánh giá vườn sầu riêng nên xét cả tổng hàm lượng và dạng di động/dễ hấp thu, vì tổng số cao chưa chắc cây hấp thu mạnh, còn dạng di động cao thì rất nguy hiểm.

Với thực phẩm, Việt Nam có QCVN 8-2:2011/BYT về giới hạn ô nhiễm kim loại nặng trong thực phẩm; xuất khẩu còn phải theo chuẩn của thị trường nhập khẩu.

8. Kết luận

Ngành cây ăn trái miền Tây, trong đó có sầu riêng, dính rủi ro Cd–As–Pb vì năm nguyên nhân cốt lõi như sau:

1. Nền địa chất – thủy văn ĐBSCL có rủi ro As tự nhiên, đặc biệt ở nước ngầm.
2. Lịch sử thâm canh lúa nhiều vụ làm đất suy thoái, chua hóa, giảm hữu cơ, tích lũy tạp chất từ phân thuốc.
3. Thói quen dùng phân lân/DAP/NPK lâu dài có thể đưa Cd vào đất nếu nguồn nguyên liệu phosphate nhiễm Cd.
4. Chuyển đổi sang cây lâu năm thiếu xét nghiệm nền khiến sầu riêng trồng trên môi trường đất – nước chưa được “giải độc” và chưa ổn định.
5. Canh tác nông nghiệp theo lối truyền thống, thiếu áp dụng và tuân thủ các tiêu chuẩn GAP (Good Agriculture Practice) thói quen canh tác nông nghiệp TỐT.

Để lưu lại
28/05/2026

Để lưu lại

27/05/2026

Address

Tỉnh Đồng Nai

Telephone

+84901280380

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Trung tâm Khoa học và Đổi mới Sáng tạo posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share