Chia sẻ kiến thức chăn nuôi thuỷ sản

Chia sẻ kiến thức chăn nuôi thuỷ sản Nơi chia sẻ các hoạt động trong chăn nuôi thuỷ sản khắp các vùng miền

Mưa lớn, mưa kéo dài ảnh hưởng đến tôm nuôi như thế nào?-Mưa kéo dài làm nước trong ao phân tầng, phân tầng nhiệt độ làm...
10/05/2024

Mưa lớn, mưa kéo dài ảnh hưởng đến tôm nuôi như thế nào?
-Mưa kéo dài làm nước trong ao phân tầng, phân tầng nhiệt độ làm tôm bị sốc nhiệt, strees. Tôm di chuyển xuống đáy ao, nơi có nhiệt độ ấm hơn nhưng trời mưa khí độc H2S tích tụ dưới đáy ao sẽ được giải phóng mạnh nên tôm sẽ gặp nguy hiểm nhiều hơn.
-Đối với những ao tảo dày, đặc biệt khi mưa vào ban đêm dẫn đến hiện tượng sụp tảo, tôm bị nghẹt mang, thiếu oxy chết hàng loạt
-Trời mưa thay đổi thời tiết tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn có hại phát triển gây bệnh cho tôm đặc biệt gây bệnh đường ruột, gan tụy cho tôm.
-Mưa lớn hoặc mưa kéo dài làm lượng lớn nước mưa có tính axit ở trong ao, đồng thời rửa trôi phèn từ bờ xuống ao nuôi làm cho nước ao trở nên đục và pH trong ao giảm.
-Nhiệt độ nước, oxy hòa tan, pH, độ kiềm và độ mặn trong ao giảm.
-Khoáng chất trong ao giảm thấp dẫn đến tôm bị mềm vỏ.
-Tiếng ồn do va đập của hạt mưa trên bề mặt ao làm tôm bị stress.
-Tôm tránh tiếng ồn do mưa gây ra bằng cách trốn xuống đáy ao.
-Tôm giảm ăn.

Khoáng đa vi lượng đóng vai trò quan trọng trong các quá trình sinh hóa của động vật thủy sản, giúp chúng khỏe mạnh hơn ...
18/12/2023

Khoáng đa vi lượng đóng vai trò quan trọng trong các quá trình sinh hóa của động vật thủy sản, giúp chúng khỏe mạnh hơn tăng khả năng thích nghi với sự biến đổi của môi trường. đối với tôm nuôi, chúng có tốc độ tăng trưởng nhanh và lột vỏ liên tục, nên nhu cầu khoáng vi lượng đặc biệt cao.
Công dụng của khoáng vi lượng trong nuôi tôm:
- Tham gia vào quá trình hình thành vỏ, cơ.
- Nâng cao tỷ lệ sống, khả năng tăng trưởng.
- Giảm stress, kích thích miễn dịch.
- Cải thiện màu cắc tôm, tôm bngs, màu đẹp.
- Hoạt hóa enzyme.
- Điều hòa áp suất thẩm thấu.
- Thành phần quan trọng hình thành vitamin B12.
Sẽ thế nào nếu tôm thiếu hoáng vi lượng
- Tôm bị cong thân, đục cơ, mềm vỏ, mỏng vỏ, màu sắc nhợt nhạt.
- Giảm bắt mồi, giảm tăng trưởng.
- Giảm khả năng đề kháng, tôm dễ nhiễm bệnh.
- Giảm hoạt tính một soosenzyme.
- Thiếu vitamin B12.

14/12/2023

GAN-TỤY VÀ CÁCH NHẬN BIẾT BỆNH
Gan tụy là bộ phận rất quan trọng, cũng là bộ phận yếu nhất rất dễ mắc bệnh, có thể gây chết hàng loạt nếu không có cách phòng trị kịp thời.
✅ Gan tụy tốt
- Màu sắc: nâu vàng (ao đất), nâu đen (ao bạt)
- Dịch gan: khi bóp nát có dịch màu nâu vàng sệt
- Mùi: tanh nhẹ đặc trưng
- Màng bào: nhìn từ ngoài thấy màng bao gan màu vàng nhạt bọc 1/2 gan dưới
- Hình dạng: rộng tới hai mép mang, dài ngang cổ giáp đầu ngực, rõ ràng sắt nét
- Thấy rõ dạ dày hình hạt gạo, có màu nâu đen rõ rệt
❎ Gan tụy xấu
Teo gan❗️
- Khối gan tụy bị nhỏ lại, có màu đen
- Dùng tay bóp sẽ không vỡ, còn nguyên khối, dai như cao su
- Tôm chết rải rác, ruột tôm rỗng
- Số tôm chưa nhiễm bệnh thì vẫn ăn bình thường
- Nếu được xử lý và chăm sóc tốt, tôm có thể vượt qua được và lớn bình thường
Nhũn gan, vàng gan❗️
- Gan tụy mềm nhũn, dễ vỡ, có màu vàng nhạt
- Tách ra sẽ không còn nguyên khối
- Khả năng lây nhiễm, tỷ lệ chết nhanh
- Cần cân nhắc thu hoạch ngay khi phát hiện bệnh
Gan tụy cấp (EMS) ❗️
- Nguyên nhân được xác định là do vi khuẩn có độc lực cao
- Khối gan tụy teo, có màu nhạt hoặc trắng
- Ruột tôm rỗng không có thức ăn hoặc bị đứt đoạn
- Tôm thường bị mềm vỏ, tỷ lệ tôm chết rất nhanh

07/12/2023

ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TÔM
Tôm là động vật có thân nhiệt thay đổi theo môi trường, do đó mọi biến đổi trong môi trường sống đều gây ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của chúng, nhất là nhiệt độ. Nhiệt độ nước tác động trực tiếp đến nhiều phương diện đời sống của tôm.
Mức nhiệt độ tối ưu đối với tôm sú là 28 – 30 C. Còn tôm thẻ thì phù hợp ở mức nhiệt độ 25 – 30 độ C.
→Khi nhiệt độ nước cao tôm tiêu thụ lượng thức ăn nhiều hơn, quá trình tiêu hóa cũng diễn ra nhanh hơn. Tuy nhiên, chúng lại không thể tiêu thụ hết tất cả chất dinh dưỡng trong thức ăn như ở nhiệt độ thường nên gây lãng phí thức ăn. Ngược lại nếu nhiệt độ giảm thấp, quá trình trao đổi chất của tôm giảm nên chúng ăn ít hơn. Do vậy bà con cần kiểm soát và giảm hàm lượng phù hợp để không bị lãng phí thức ăn.
Nhiệt độ cao làm chất thải từ tôm bị phân hủy nhanh chóng, gây thiếu oxy cục bộ ở tầng đáy, đồng thời sinh ra các khí độc như NO2, H2S, NH3 và nhiều vi khuẩn gây hại.
Nhiệt độ có thể khiến tôm bị đục cơ. Tôm bị đục cơ là hiện tượng thường xảy ra khi thời tiết nắng nóng. Vì thế, bà con chỉ nên kiểm tra tôm vào những thời gian mát mẻ trong ngày.
→Quản lý nhiệt độ ao nuôi khi thời tiết nắng nóng
Thời tiết nắng nóng không chỉ làm nhiệt độ ao nước tăng lên bất thường mà còn kéo theo sự thay đổi của độ mặn, độ pH.
Chạy quạt và oxy đáy liên tục để hạn chế sự phân tầng nhiệt độ. Đồng thời, nếu trời nắng gắt có thể sử dụng lưới che chắn bên trên để hạn chế ánh nắng chiếu trực tiếp xuống hồ. duy trì mực nước trong ao từ 1,2 – 1,5m.
Kiểm tra môi trường nước thường xuyên, nếu mực nước giảm và nước ao có màu đậm thì tiến hành cấp nước từ từ khoảng 20%- 30% lượng nước vào ao. Nên cấp lúc trời mát, qua ao lắng có xử lý
→Quản lý nhiệt độ ao nuôi khi thời tiết trở lạnh
Thời tiết trở lạnh, nhiệt độ ao giảm thấp sẽ làm giảm sức ăn của tôm đáng kể. Vào mùa lạnh, để cải thiện sức ăn và tốc độ phát triển của tôm, bà con phải liên tục chạy quạt và oxy đáy để không gặp phải tình trạng phân tầng nhiệt độ.
Tăng cường sục khí để cung cấp đủ oxy cho các tầng nước
Cần thực hiện kiểm tra nhiệt độ nước hàng ngày. Trường hợp nhiệt độ nước quá thấp, có thể bổ sung thêm vôi nóng để giúp cải thiện. Tuy nhiên, bà con cần cân bằng liều lượng để không ảnh hưởng đến độ pH và độ kiềm.

04/12/2023

5 MÀU NƯỚC PHỔ BIẾN TRONG AO NUÔI BẠN CẦN PHẢI BIẾT
👉 1. Màu vàng nâu (màu nước trà)
- Có lợi.
- Tảo khuê (tảo silic) phát triển mạnh ở đầu vụ nuôi trong môi trường nước lợ, mặn.
- Ở dạng đơn bào, tảo sillic có giá trị dinh dưỡng cao, nguồn thức ăn tự nhiên tốt cho ấu trùng và thủy sinh vật giai đoạn sống đáy.
👉👉 2. Màu xanh nhạt (đột chuối non)
- Có lợi.
- Tảo lục phát triển mạnh trong môi trường nước ngọt, lợ < 10‰.
- Ngoài việc góp phần trong chuỗi thức ăn tự nhiên, tảo lục còn có tác dụng ổn định các yếu tố thủy lý thủy hóa trong ao, hấp thu các chất hữu cơ qua đó làm giảm lượng khí độc trong ao.
👉👉👉 3. Màu xanh đậm (xanh rêu)
- Có hại.
- Tảo lam phát triển mạnh trong cả 3 dạng môi trường nước ngọt, lợ và mặn.
- Một số loài tảo lam tiết ra chất độc làm chết tôm, cá. Ngoài ra, còn làm giảm Oxy về đêm và gây hiện tượng nở hoa nước gây độc cho động vật thủy sản.
👉👉👉👉 4. Màu xanh rau má (hoặc nâu đen)
- Có hại.
- Tảo mắt phát triển mạnh ở nước ngọt, một số ít sống ở môi trường nước lợ, mặn.
- Nền đáy ao nhiễm bẩn là điều kiện lý tưởng để tảo mắt phát triển. Gây ra hiện tượng thiếu oxy cục bộ và làm ô nhiễm nguồn nước.
👉👉👉👉👉 5. Màu nâu đỏ
- Có hại.
- Tảo giáp sống chủ yếu ở nước mặn, khoảng 10% sống ở nước ngọt.
- Sự mất cân bằng khoáng đa vi lượng và nền đáy bẩn tạo điều kiện tảo giáp phát triển. Gây ra hiện tượng tôm nổi đầu do thiếu oxy và hiện tượng phân đường ruột đứt đoạn do tôm không tiêu hóa được tảo giáp gây tắt ngẵn đường ruột. Ngoài ra, còn gây hiện tượng phát sáng về đêm.

02/12/2023

Ảnh hưởng của pH đến ao nuôi tôm
Trong nuôi trồng thủy sản độ pH rất dể bị thay đổi ảnh hưởng trực tiếp đến các điều kiện lý, hóa, sinh của môi trường nước ao nuôi cũng như ảnh hưởng đến tôm nuôi.
Ngưỡng pH thích hợp trong nước ao nuôi tôm khoảng từ 7.5 đến 8.5
Khi pH quá cao thường sẽ làm trong nước, khó gây màu và thủy sinh vật đáy phát triển và tạo ra biến động pH trong ngày rất lớn
pH quá thấp cũng ảnh hưởng đến tảo và vi sinh vật trong nước. Ngoài ra, pH còn thấp do nước bị nhiễm phèn, sụp tảo và trong quá trình phân hủy vật chất hữu cơ trong nước.
Khi pH vượt ngưỡng có ảnh hưởng bất lợi trên tôm như làm tôm chậm lột, suy giảm miễn dịch, stress.
Khi nuôi tôm trong giai đoạn lột vỏ, nếu pH giảm quá thấp rất dễ gây hiện tượng tôm dính chân không lột được ra khỏi vỏ. pH biến đổi ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa của tôm khiến tôm còi cọc, không lớn và suy giảm hệ miễn dịch dễ nhiễm các mầm bệnh tồn tại trong ao.
pH tăng cao sẽ làm nồng độ khí độc NH3 trong nước tăng cao, pH giảm thấp sẽ làm bùng phát khí độc H2S trong ao. Hai loại khí độc này cực kỳ nguy hiểm và ảnh hưởng đến tôm nuôi rất nhiều.
Khí độc NH4+/NH3 tồn tại trong ao gây phản ứng nitrat hóa của vi khuẩn và oxy làm giảm kiềm trong nước, ảnh hưởng đến pH..
Vùng đất phèn => pH thấp do phèn làm giảm pH nước.
Sụp tảo, mưa nhiều, rửa trôi phèn vào ao nuôi cũng làm giảm pH.
Trên thực tế hiện nay người ta thường dùng các loại vôi để cải thiện pH . Ngoài ra, vôi Canxi, Dolomite giúp ổn định pH của nước tốt nhưng độ hòa tan thường kém và bị giới hạn độ tan khi pH > 8,3.
Vôi nóng và vôi tôi thường làm tăng pH tốt hơn bởi khả năng khử CO2 trong nước tốt hơn. Nhưng cũng không nên ứng dụng liều lượng quá cao làm pH tăng đột ngột gây ảnh hưởng không tốt cho tôm.
Khi pH cao:
Làm giảm pH bằng mật đường, bột gạo kết hợp với sục khí vi sinh cũng là một giải pháp hiệu quả.

Ký sinh trùng (Gregarine) là nhóm nguyên sinh vật ký sinh trung gian trên nhóm thân mềm 2 mảnh vỏ và nhóm giun tơ xâm nh...
28/11/2023

Ký sinh trùng (Gregarine) là nhóm nguyên sinh vật ký sinh trung gian trên nhóm thân mềm 2 mảnh vỏ và nhóm giun tơ xâm nhập vào cơ thể khi chúng bám trên mang hoặc được tôm ăn vào, chúng sẽ bám vào thành ruột của tôm, gây tổn thương ruột, tắc nghẽn ruột, đặc biệt là gây tổn thương niêm mạc ruột tạo cơ hội cho vi khuẩn có hại xâm nhập gây ra nhiều bệnh trên tôm trong đó phổ biến nhất là bệnh phân trắng trên tôm. Bệnh phân trắng trên tôm là loại bệnh khá phổ biến và thường bắt gặp từ giai đoạn tôm được 40 – 50 ngày tuổi trở lên. Mặc dù bệnh không gây nguy hiểm như đốm trắng, đầu vàng nhưng bệnh ký sinh trên tôm có khả năng lây lan nhanh gây giảm năng suất, thiệt hại nặng nề cho bà con nuôi tôm.
Tôm nhiễm ký sinh trùng giai đoạn đầu đường ruột tôm bị cong theo hình chữ Z, kế đến đường ruột đứt khúc và đường ruột có màu trắng đục tôm ăn yếu, sau 7-10 ngày nhiễm bệnh đường ruột tôm sẽ có màu vàng và trắng sữa, đường ruột đốt đuôi sưng to hình tròn hoặc hình hạt gạo, nếu chúng xâm nhập vào gan thì làm gan tôm mất màu, teo và vàng gan, sau cùng tôm bị ốp thân, bơi trên mặt nước và tấp mé chết. Để nhận định chính xác ta nên xem mẫu tôm dưới kính hiển vi .

Biện pháp phòng trị:
Chọn tôm giống từ cơ sở có uy tín và chất lượng tốt.
Cải tạo triệt để, đúng quy trình kỹ thuật.
Thả giống với mật độ thích hợp, đúng mùa vụ và thời tiết thích hợp.
Hạn chế các sinh vật trung gian (cua, còng, giáp xác…) bằng các sản phẩm an toàn sinh học.
Định kì diệt ký sinh trùng (BKC, IODINE, các thuốc thảo dược).

CÓ NÊN LÀM CƠ CHẤT CHỨA THÊM THÀNH PHẦN ENZYME?Trong sản phẩm vi sinh chúng ta mua, thành phần chủ yếu được gọi bằng nhi...
25/11/2023

CÓ NÊN LÀM CƠ CHẤT CHỨA THÊM THÀNH PHẦN ENZYME?
Trong sản phẩm vi sinh chúng ta mua, thành phần chủ yếu được gọi bằng nhiều cái tên như, chất đệm, cơ chất, chất mang...hiểu một cách đơn giản là chất sau khi quay ly tâm tuyến tính tách phần nước tâm sẽ được phun vi sinh vật vào, và đưa về độ ẩm cho phép. Đến thời gian này có rất nhiều chất được làm( tạm được gọi chung là CHẤT MANG )dextrose, cám gạo, siêu bột sò, bột sắn...và thêm thành phần enzyme !
Xin lấy một định nghĩa về chất mang , chất mang là những chất không làm mất cân bằng dinh dưỡng, có cùng kích thước và khối lượng như hoạt chất, có độ ẩm dưới 8%, tỉ lệ chất béo thấp hơn 6%, pH từ 5,6 - 7,5 (tuỳ loại P) không làm giảm hoạt tính của chất. Đây là lý do với các đơn vị sản xuất vi sinh nước ngoài họ không chọn chất mang thêm thành phần enzyme, bởi trên mỗi loài vi sinh vật sẽ tiết ra hệ enzyme riêng:
Lipase: Giúp tiêu hóa chất béo tại ruột.
Amylase: Giúp chuyển hóa tinh bột thành đường.
Maltase: Giúp chuyển hóa đường maltose thành glucose. ...
Trypsin: Giúp chuyển hóa protein thành các axit amin.
Khi làm chất mang enzyme phần lớn nhà sản xuất đánh vào yếu tố cảm quan ngay, có nghĩa là các enzyme xử lý là nhìn thấy ngay nhưng kết quả bền vững cho vi sinh lại không có, bởi bị ức chế bởi vùng chuyển hóa. khi sục với thời gian như nhân sinh khối, enzyme hoạt tính mất dần, và sự tương tác trái chiều gây yếu tố hoạt lực vi sinh vật giảm nếu như không cùng về bản chất với vi sinh vật.
Nên nếu từng học qua về vi sinh vật, chẳng ai khuyên rằng không nhân sinh khối, qua thời gian rất ngắn mật độ vi sinh vật tăng , giảm chi phí người dùng, cũng qua đây khuyên người nuôi, vi sinh vật là bền vững nếu cảm quan đánh thấy ngay hiệu quả thử kiểm tra đó có thật sự là vi sinh không? Hay bên trong chứa toàn chất cấm.

Sử dụng hoá chất và kháng sinh đem lại rất nhiều nguy cơ tiềm ẩn trong nuôi tôm.  Việc sử dụng hóa chất và kháng sinh sẽ...
24/11/2023

Sử dụng hoá chất và kháng sinh đem lại rất nhiều nguy cơ tiềm ẩn trong nuôi tôm. Việc sử dụng hóa chất và kháng sinh sẽ gây ra suy thoái hô hấp đất trong ao và suy giảm hệ sinh thái ven bờ ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình nuôi tôm và môi trường bị ô nhiễm. . Khi sử dụng hóa chất diệt khuẩn sẽ làm môi trường nước không ổn định, ảnh hưởng đến sự phát triển của động vật nuôi và gây mất cân bằng hệ sinh vật trong ao nuôi từ đó vi khuẩn có lợi sẽ bị tiêu diệt, từ lợi thế đó vi khuẩn có hại dần tăng lên chống lại sự xâm nhập của hóa chất vào cơ thể và vi khuẩn có hại vẫn tiếp tục phát triển mật số cao hơn lúc ban đầu, tăng độc tính, tăng khả năng gây hại đến tôm nuôi. việc sử dụng hóa chất sẽ hóa chất để diệt khuẩn trong ao nuôi tôm sẽ không tiêu diệt hoàn toàn được vi khuẩn có hại mà ngược lại làm tăng độc tính, khả năng gây hại và ô nhiễm môi trường ao nuôi. Vấn đề đặt ra phải có phương pháp để khắc phục tình trạng này và phải có 1 sản phẩm tốt để giải quyết hiện trạng này. Phương pháp hiệu quả nhất hiện nay là dùng vi khuẩn có lợi mật số cao để lấn át và ức chế vi khuẩn có hại. Việc tạo vi sinh mật số cao, chuyên xử lý nền đáy ao, ổn định môi trường nước, xử lý các loại khí độc trong ao sử dụng vi sinh sẽ hạn chế chi phí đầu tư và giảm thiểu rủi ro về sức khoẻ tôm nuôi và giúp bà con nuôi tôm đạt hiệu quả.

👉👉👉𝑲𝒉𝒐𝒂́𝒏𝒈 𝒄𝒐́ 𝒗𝒂𝒊 𝒕𝒓𝒐̀ 𝒒𝒖𝒂𝒏 𝒕𝒓𝒐̣𝒏𝒈 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 𝒒𝒖𝒂́ 𝒕𝒓𝒊̀𝒏𝒉 𝒔𝒊𝒏𝒉 𝒕𝒓𝒖̛𝒐̛̉𝒏𝒈 𝒗𝒂̀ 𝒑𝒉𝒂́𝒕 𝒕𝒓𝒊𝒆̂̉𝒏 𝒄𝒖̉𝒂 𝒕𝒐̂𝒎.Bổ sung khoáng chất cho...
22/11/2023

👉👉👉𝑲𝒉𝒐𝒂́𝒏𝒈 𝒄𝒐́ 𝒗𝒂𝒊 𝒕𝒓𝒐̀ 𝒒𝒖𝒂𝒏 𝒕𝒓𝒐̣𝒏𝒈 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 𝒒𝒖𝒂́ 𝒕𝒓𝒊̀𝒏𝒉 𝒔𝒊𝒏𝒉 𝒕𝒓𝒖̛𝒐̛̉𝒏𝒈 𝒗𝒂̀ 𝒑𝒉𝒂́𝒕 𝒕𝒓𝒊𝒆̂̉𝒏 𝒄𝒖̉𝒂 𝒕𝒐̂𝒎.
Bổ sung khoáng chất cho tôm đúng cách sẽ quyết định đến tỷ lệ sống và sự tăng trưởng của tôm, đặc biệt trong những thời điểm tôm cần bổ sung khoáng để lột xác.
👉👉👉Cách bổ sung:
Tôm có thể hấp thụ khoáng qua 2 cách : khoáng tạt ao tôm và khoáng trộn cho ăn. Tôm có thể hấp thụ khoáng trự tiếp từ môi trường thông qua việc hấp thụ qua mang nên việc tạt trực tiếp vào trong nước để bù lại lượng khoáng trong quá trình lột xác của tôm . Đối với ao nuôi có độ mặn thấp, tôm sẽ khó khăn trong việc hấp thụ khoáng trong môi trường nước trường hợp này ta cần bổ sung khoáng vào thức ăn.
Một số trường hợp tôm thiếu khoáng dẫn đến hiện tượng tôm mềm vỏ kéo dài, tôm khó lột xác. Hàm lượng P trong nước ít do đó phải bổ sung định kỳ nhằm hạn chế tình trạng tôm khó lột xác. Từ 35 đến 65 ngày là giai đoạn tăng trưởng mạnh nhất của tôm, nếu thấy tôm tăng trưởng chậm chứng tỏ hàm lượng Ca, Mg trong nước thiếu, không đáp ứng đủ nhu cầu hấp thụ của tôm, trong trường hợp này ta nên bổ sung thêm khoáng bằng cách trộn vào thức ăn cho tôm.
Trong giai đoạn lột xác cần bổ sung khoáng vào ban đêm từ 22-24 giờ, giai đoạn này ta cần tăng liều lượng oxi lên gấp đôi và sau khi lột xác tôm sẽ bắt đầu hấp thụ khoáng từ môi trường nước để tạo vỏ, quá trình hấp thụ khoáng chất diễn ra mạnh vào giai đoạn từ 2-4 giờ sáng. Khi thấy tôm có dấu hiệu mềm vỏ, khó lột xác thì cần tạt vôi bột xuống ao kết hợp với khoáng trộn thức ăn để khắc phục hiện tượng này.

Nitrosomonas & Nitrobacter !Đây 2 hai vi khuẩn tai tiếng nhất trong ngành xử lý khí độc hiện nay, vì khả năng nitrat hóa...
21/11/2023

Nitrosomonas & Nitrobacter !
Đây 2 hai vi khuẩn tai tiếng nhất trong ngành xử lý khí độc hiện nay, vì khả năng nitrat hóa của chúng là rất mạnh, nhưng sao trong các sản phẩm lại rất ít đăng ký chúng, các nguyên nhân vén tấm màn có thật sự tồn tại hay không?
1. Nồng độ oxy hòa tan cao 3,5 mg/L->5,5 mg/L.
Nitrosomonas và Nitrobacter là hai vi khuẩn hiểu khí bắt buộc chúng xảy ra hiện tượng nitrat hóa ở mức oxy hòa tan như trên, và kết thúc quá trình 7,5 nên vi khuẩn dị dưỡng phát triển rất tốt ở các môi trường axit, nồng độ pH không ổn định cũng làm Nitrosomonas và Nitrobacter chết đi 1 cách nhanh chóng.
3. Bảo quản Nitrosomonas và Nitrobacter
Nếu bây giờ sản xuất vi sinh phần lớn các cty đều làm theo 3 hình thức, sấy, đông khô, và lý tâm tuyến tính, để đưa về dạng bào tử có thể đóng gói bảo quản thời hạn dài theo quy định nhà nước, nhưng hai vi khuẩn này lại không sinh bào tử nên khi sấy, hay đông khô chúng sẽ bị chết ngay lập tức, phương pháp duy nhất đó là tuyến tính bất hoạt, một bảo quản nhiệt độ thấp dưới 5 độ C , hoặc bọc lớp biofiml tạo bào tử cho chúng tồn tại.
Để làm điều này cần nhà máy vô cùng hiện đại, công nghệ tuyến tính ly tâm và bọc biofiml khá tốn kém.
4. Sinh trưởng khá chậm
Khác với tự dưỡng thì dị dưỡng lấy Cacbon hữu cơ làm dinh dưỡng, thu năng lượng từ quá trình oxy hóa nito vô cơ tổng hợp tế bào cacbon dioxit, nên tốc độ các chủng nitrat thường chậm hơn 10 lần so với kỵ khí.
Nitrosomonas và Nitrobacter nuôi cấy cần rất nhiều thời gian, và chỉ cần gặp điều kiện không thuận lợi chúng chết đi rất nhanh, đây là lý do chính mà các nhà sản xuất ít điều kiện sản xuất hai chủng này nếu kỹ thuật không cao.
5. Tác động qua lại COD và BOD
Các dạng BOD hòa tan có thể ức chế hoạt động của Nitrosomonas và Nitrobacter. BOD có thể xâm nhập vào tế bào và làm bất hoạt hệ thống enzym của chúng. Dạng BOD này phải bị phân hủy đáng kể hoặc hoàn toàn bởi các vi khuẩn xử lý BOD, COD, Tss để Nitrosomonas oxy hóa các ion amoni và nitrit. Nitrat hóa phụ thuộc vào sinh vật xử lý chất hữu cơ để giảm BOD xuống nồng độ tương đối thấp (

KHÍ ĐỘC TRONG AO TÔMAo tôm khi nuôi khoảng 1 tháng thì bắt đầu có khí độc NH3, NO2 do thức ăn dư thừa, phân tôm, bùn sìn...
17/11/2023

KHÍ ĐỘC TRONG AO TÔM
Ao tôm khi nuôi khoảng 1 tháng thì bắt đầu có khí độc NH3, NO2 do thức ăn dư thừa, phân tôm, bùn sìn, tảo tàn.
Lượng khí độc càng ngày càng tăng do tôm càng lớn càng ăn nhiều và thải nhiều hơn.
Ao khí độc nhiều tôm sẽ thiếu oxi ban đêm, tôm chuyển màu đỏ, tôm khó lột hoặc lột nhưng khó làm vỏ vì khi tôm lột cần nhiều oxi nhưng ao khí độc cao làm thiếu oxi.
Tôm sẽ rớt chết và khó về size lớn khi khí độc cao.
*CÁCH PHÒNG VÀ XỬ LÍ
Cho ăn 80% sức ăn của tôm để chất thải ít.
Sử dụng yucca cũng hấp thụ được khí độc NH3 nhưng yucca chỉ hiệu quả tạm thời, giá thành cao và chất lượng không ổn định.
Dùng mật đường để cân bằng hệ số C,N. Mật vừa làm giảm PH ( độc tính NH3 giảm khi PH thấp) vừa là nguồn thức ăn cho vi sinh nhân sinh khối.
Thay nước, siphong.
Cách tốt nhất là xài vi sinh ( cả yếm khí và hiếu khí) mỗi ngày để xử lí chất thải từ đầu vụ.
Ao bạt có si phong thay nước nhưng vi sinh vẫn xài mỗi ngày.
Trong khi ao đất hầu như ít có siphong và có ao lắng để thay nước nhưng 3,4 ngày mới đánh vi sinh. Như vậy hiệu quả của vi sinh sẽ không cao. Mọi người cứ nghĩ tôm nhỏ không ăn nhiều, chất thải ít nên không cần xài vi sinh mỗi ngày là chưa chính xác lắm.
Chúng ta phải xử lí chất dơ triệt để từ đầu vụ. Chứ đợi khi khí độc lên cao thì xử lí rất khó và tốn kém nhưng hiệu quả không cao.
Anh em vô google gõ chu trình nitrate hoá để hiểu rõ hơn về đường đi của khí độc ( viết cái này hơi dài dòng).
Khi tới NO2 thì phải cần dòng nitro và nhiều oxi để chuyển NO2 thành NO3 ít độc. Dòng nitro trong ao có sẵn nhưng cần thời gian, giá thể, oxi để chúng hoạt động hiệu quả.
Nên cách tốt nhất xử NO2 vẫn là thay nước, tăng cường oxi, rải thêm oxi viên. Muối hột vài chục kí khu xung quanh đường rúng để giảm độc tố NO2.
Con Nitrosomonas và nitrobacter không sinh bào tử nên mấy bịt vi sinh ghi con nitro cả đống để xử lí NO2 là lừa anh em thôi.

Address

Phường Quang Trung
Thai Binh

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chia sẻ kiến thức chăn nuôi thuỷ sản posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share